phần Mở đầu; Kết luận, khuyến nghị; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: 4 Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học môn khoa học tự nhiên cho giáo viên trƣờng THCS đáp ứng chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. Thực trạng quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học môn khoa học tự nhiên cho giáo viên ở các trƣờng THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đáp ứng chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. Biện pháp quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học môn khoa học tự nhiên cho giáo viên ở các trƣờng THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đáp ứng chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN CHO GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Năng lực dạy học là một vấn đề then chốt trong đào tạo, bồi dƣỡng giảng viên. Vấn đề năng lực dạy học và bồi dƣỡng năng lực dạy học, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến.
Có thể kể ra những công trình nghiên cứu có tính chất tiêu biểu: Xét theo lịch sử phát triển của Giáo dục học, quan điểm của J.Cômenxki (1592- 1670) đƣợc coi là nghiên cứu đầu tiên về kĩ năng dạy học. Với tác phẩm “Phép giảng dạy lớn”, ông đã chỉ ra những kĩ thuật dạy học nhằm làm cho thầy giáo giảng ít hơn nhƣng học sinh học đƣợc nhiều hơn. Tại Liên Xô (trƣớc đây) và các nƣớc Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các nghiên cứu về phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV đƣợc triển khai trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng.A, Apduninna hệ thống hóa các kĩ năng sƣ phạm của ngƣời GV và mô tả cụ thể các kĩ năng sƣ phạm này; Ph.N, Gônôbôlin cũng đƣa ra những năng lực sƣ phạm mà ngƣời SV cần rèn luyện và phát triển. Những năm 70, với mục tiêu nâng cao chất lƣợng quá trình dạy học, hàng loạt các nghiên cứu về kĩ năng sƣ phạm, KNDH đã đƣợc triển khai [15].
Tiếp đến các nghiên cứu về KNDH rất phát triển ở các nƣớc phƣơng Tây nhƣ Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp,… Nền tảng của những nghiên cứu này là lí thuyết của các nhà Tâm lí học hành vi nhƣ: J. Các tác giả tiêu biểu có thể kể đến là: J. Trong công trình nghiên cứu của G. Petty, trên cơ sở giới thiệu về quan niệm trong các lí thuyết về học tập, tác giả đã xác định và hƣớng dẫn GV thực hành các kĩ năng nhƣ xác định mục đích và mục tiêu học tập, chọn các hoạt động cho bài học, chọn hoạt động để đạt các mục tiêu cảm xúc, soạn giáo án, tổ chức khóa học, lập kế hoạch các khóa học, đánh giá, đánh giá tổng kết, đánh giá các bài học, giữ thái độ đúng mực trong dạy học [16].
6 Trung Quốc đã xuất bản bộ sách “Bồi dƣỡng KNDH môn Ngữ văn cho GV THCS và THPT. Bộ sách giới thiệu các KNDH trong dạy học môn học Ngữ văn nhƣ: kĩ năng giảng giải - kĩ năng nêu vấn đề, kĩ năng tổ chức lớp - kĩ năng biến hóa trong giảng dạy, kĩ năng dẫn nhập - kĩ năng kết thúc, kĩ năng phản hồi - kĩ năng luyện tập, kĩ năng ngôn ngữ - kĩ năng nâng cao hiệu quả học tập, kĩ năng trình bày bảng - kĩ năng trình bày trực quan [17]. Tác giả Andrea Kárpáti, trong tài liệu Phát triển chuyên môn và bồi dƣỡng giáo viên đƣa ra một số khuyến nghị quan trọng nhƣ: Gắn kết chặt chẽ các chƣơng trình phát triển chuyên môn GV với đào tạo tại chức ngay tại nơi làm việc của họ, cần đánh giá năng lực sau khóa học của GV để đề xuất định hƣớng cải tiến [42]. Theo Hannele Niemi và Ritva JakkuSihvonen [43], lí do cơ bản dẫn đến thành công của hệ thống GD Phần Lan (có thành tích cao nhất trong nhiều kỳ thi PISA) là do Phần Lan đã quyết định nâng chuẩn tr nh độ GV phổ thông lên trình độ thạc sĩ và mọi GV có nghĩa vụ và quyền hạn phải không ngừng học tập, phát triển chuyên môn.
Công trình nghiên cứu về đào tạo GV tiểu học và trung học ở 6 quốc gia Đông Âu của Ủy ban Văn hóa và Giáo dục thuộc Liên minh châu Âu cũng xác định trong công cuộc đổi mới GD, việc BDGV cần phải đƣợc chú trọng, phải có kế hoạch lâu dài cho công tác BDGV ở giai đoạn tiếp nối [44]. Luật nhà trƣờng của bang Brandenburg, Cộng hoà Liên bang Đức [12] quy định rõ GV phải có nghĩa vụ tham gia BD, thƣờng xuyên cập nhật kiến thức và đƣa vào những biện pháp đào tạo nâng cao NL chuyên môn. Chƣơng trình BDGV có ở ba cấp quản lý: Cấp nhà nƣớc, cấp địa phƣơng và chƣơng trình BD tại các nhà trƣờng. CheeThao Xiong Yer (2020) luận án “Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học phổ thông nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” [10], đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học phổ thông; đánh giá và phân tích thực trạng Quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học phổ thông nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và từ đó đề xuất đƣợc 6 biện pháp quản lý cho Hiệu trƣởng các trƣờng THPT tại Lào.
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về năng lực dạy học và bồi dƣỡng năng lực dạy học đã có khá nhiều. Trƣớc đây một trong những phƣơng pháp truyền thống để bồi dƣỡng năng lực dạy học cho ngƣời giáo viên, giảng viên nói chung là cho họ dự một số giờ giảng của những giáo viên, giảng viên có kinh nghiệm trong 7 giảng dạy để học hỏi và tự mình đúc kết kinh nghiệm. Sau một số buổi dự giờ nhƣ vậy thì những giáo viên đó sẽ tập giảng một số tiết theo mẫu đã đƣợc quan sát. Sau khi giảng ngƣời giáo viên sẽ đƣợc các đồng nghiệp đánh giá rút kinh nghiệm theo diễn biến những gì mà họ ghi chép đƣợc trong tiết học.
Thông qua đó ngƣời giáo viên có đƣợc năng lực dạy học cần thiết. Nhƣ vậy có thể nói rằng phƣơng pháp đào tạo này không đem lại hiệu quả bồi dƣỡng năng lực dạy học. Những nghiên cứu về kĩ năng sƣ phạm, năng lực DH của GV cũng tƣơng đối phong phú. Nghiên cứu của Lê Văn Hồng đã xác định hệ thống năng lực của ngƣời GV xã hội chủ nghĩa đƣợc coi nhƣ một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về KNDH, về bồi dƣỡng, rèn luyện KNDH ở nƣớc ta.
Tiếp nối sau đó, hàng loạt các nghiên cứu đã đƣợc triển khai nhƣ nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Hữu Dũng, Trần Tuyết Oanh; Hà Nhật Thăng. Nguyễn Nhƣ An với đề tài luận án “Hệ thống kĩ năng giảng dạy trên lớp về môn Giáo dục học và quy trình rèn luyện các kĩ năng đó cho SV Khoa Tâm lí - Giáo dục” đã phân biệt khái niệm kĩ năng sƣ phạm và KNDH, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống kĩ năng giảng dạy trên lớp và quy trình rèn luyện các kĩ năng này cho SV chuyên khoa Tâm lí - Giáo dục (dẫn theo [14]). Tại Hội thảo Khoa học Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo GV do Khoa Sƣ phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tháng 4/2004, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả nhƣ Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, Đặng Xuân Hải,… đã đề cập đến việc đào tạo, bồi dƣỡng ĐNGV trƣớc yêu cầu mới. Trong bài viết “Cải cách sư phạm và đổi mới mô hình đào tạo GV THPT” (2011), tác giả Trần Khánh Đức đã nêu rõ những yêu cầu mới của xã hội và nền giáo dục hiện đại đối với ĐNGV, mô hình tổng thể nhân cách ngƣời GV và các đề xuất nội dung chuyển đổi mô hình đào tạo GV ở các trƣờng ĐHSP.
Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài: “Đánh giá thực trạng triển khai chƣơng trình bồi dƣỡng thƣờng xuyên cho GV phổ thông” do tác giả Cao Đức Tiến làm Chủ nhiệm đề tài, đã đánh giá việc bồi dƣỡng thƣờng xuyên theo chu kì đã tạo ra đƣợc một thói quen tự học tập, tự bồi dƣỡng trong toàn thể GV trên phạm vi cả nƣớc. Trong bài viết “Chất lƣợng GV”, tác giả Trần Bá Hoành đã đƣa ra cách tiếp cận chất lƣợng GV từ các khía cạnh nhƣ đặc điểm lao động của ngƣời GV, sự thay đổi chức năng của ngƣời GV trƣớc yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lƣợng từng GV và ĐNGV (dẫn theo [20]). 8 Bàn về vai trò của hiệu trƣởng đối với việc nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên, tổng hợp các nghiên cứu của nhiều nghiên cứu trên thế giới, tác giả Trần Thị Bích Liễu (2005), chỉ ra tầm quan trọng của hiệu trƣởng trong việc chia sẻ trách nhiệm và bồi dƣỡng giáo viên thành những nhà lãnh đạo chuyên môn vì hai lí do sau đây: Hiệu trƣởng không thể có đủ thời gian để lãnh đạo toàn bộ các hoạt động dạy học và họ không thể hiểu rõ nhu cầu của lớp học nhƣ là giáo viên; Giáo viên là ngƣời am hiểu chuyên môn của môn học mà họ dạy và họ hiểu rõ hơn bất kì ai học sinh và lớp học của mình. Vai trò lãnh đạo của giáo viên đƣợc các nhà nghiên cứu xem xét từ ba góc độ: (a) giáo viên là những ngƣời quản lí, lãnh đạo trung gian ở các vị trí tổ trƣởng chuyên môn, chủ nhiệm khoa hay chủ tịch, tổ trƣởng công đoàn.
(b) Là chuyên gia môn học, con chim đầu đàn để kèm cặp các giáo viên khác; (c) Là ngƣời xây dựng và duy trì văn hóa chia sẻ, cộng tác và học tập suốt đời để thực hiện tốt quá trình dạy học trong nhà trƣờng. Họ chính là ngƣời thực hiện viễn cảnh của nhà trƣờng, biến viễn cảnh thành hiện thực. Vì vậy, con đƣờng thành công nhất để phát triển chuyên môn cho giáo viên trong nhà trƣờng là bồi dƣỡng vai trò lãnh đạo chuyên môn cho họ. (dẫn theo [23]) Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và đào tạo đã ký ban hàng thông tƣ 26/2012/TT-BGD- ĐT ngày 10/07/2012, theo quy chế triển khai công tác bồi dƣỡng thƣờng xuyên đƣợc thực hiện kết hợp theo cả hai hƣớng từ trên xuống và từ dƣới lên.