Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Năng lực dạy học và bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học Trong tư tưởng GD của phương Tây hay phương Đông, từ cổ đại cho đến hiện đại, bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng dành một vị thế đặc biệt cho nghề giáo. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhiệm vụ GD là rất quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có GD…không có GD, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa” [28, tr.
Bill Gates cho rằng: “Công nghệ chỉ là công cụ. Còn trong việc giúp những đứa trẻ làm việc với nhau và động viên chúng, GV là quan trọng nhất” [44]. Helen Caldicot cũng khẳng đinh: “Tôi tin rằng GV là người quan trọng và chịu nhiều trọng trách nhất của xã hội vì những nỗ lực trong nghề nghiệp của họ ảnh hưởng tới số phận của cả trái đất” [44]. GV là yếu tố quyết định trực tiếp đến chất lượng GD và DH ở mỗi nền GD.
Trong đó, NLDH của GV một trong những yếu tố cấu thành CNN của GV ở mỗi bậc học khác nhau. Câu hỏi NLDH của GV là gì? Nó bao gồm những thành phần NL nào là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia quan tâm. Tiếp cận NL ra đời từ giữa thế kỷ thứ XIX và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia phương Tây, Mỹ, Úc vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Các nhà QL với mong muốn xây dựng các tiêu chuẩn về NL của người lao động ở những ngành nghề khác nhau, trong đó có nghề giáo, đã quan tâm nghiên cứu và có những định như sau: Ở Thụy Sỹ, NLDH của GV được xác định gồm: “NL truyền đạt tri thức, NL kết hợp các KTDH cho HS, NL sử dụng các thiết bị dạy và học tiên tiến, NL 7 hỗ trợ và phối hợp với đồng nghiệp trong tự BD khả năng DH cá nhân, NL phát triển chương trình, NL tổ chức các mô hình lớp học tiên tiến,.
Ở Mĩ, các cơ sở đào tạo, BD GV xác định những NL thành phân của NLDH gồm: “tổ chức lớp học, xây dựng môi trường kiến tạo học tập, ĐG HS, chuẩn hóa các phương tiện DH” [37, tr. Ở Singapore, “Mô hình phát triển nghề nghiệp GV đã đặt ra cho giáo viên 5 mục tiêu cơ bản mà GV cần đạt được trong hoạt động nghề nghiệp của bản thân, cụ thể là: Người GV phải là nhà GD có đạo đức; nhà chuyên môn có NL; là người học có khả năng cộng tác; là nhà lãnh đạo có khả năng biến hóa và là thành viên tích cực xây dựng cộng đồng” [37]. Ở Anh, từ năm 2007, các nhà GD Anh đã đề xuất xây dựng CNN với 3 thành tố: “(1) Những đặc trưng nghề nghiệp. (2) Kiến thức và sự am hiểu nghề nghiệp.
(3) Các kĩ năng nghề nghiệp” [37, tr. Nhiều quốc gia khác như Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản,… đều đã xây dựng CNN của GV, trong đó, có chuẩn về NLDH. Ở Việt Nam, Bộ GD&ĐT trên cơ sở nghiên cứu về CNN của các quốc gia trên thế giới, căn cứ vào thực trạng GD Việt Nam cũng đã xây dựng CNN cho giáo viên ở các bậc học khác nhau, trong đó có CNN GV TH. Trong CNN GV TH cũng đã xác định những NLDH mà GV TH phải đáp ứng [6].
Vấn đề NLDH và Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học được nhiều nhà nghiên cứu, nhà GD nghiên cứu với phạm vi, mức độ và góc độ tiếp cận khác nhau. Những nghiên cứu chung về NLDH và BD NLDH cho đội ngũ GV phổ thông, trong đó có GV TH, có thể kể đến gồm: Nguyễn Đức Danh và Lê Thanh Hải (2018) đã phân tích một số điểm cơ bản của đổi mới CTGDPT, từ đó xác định những yêu cầu cơ bản đối với cán bộ QL và đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng đổi mới CTGDPT và đưa ra một số đề xuất về công tác BD NL nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ QL và GV theo yêu cầu đổi mới CTGDPT [12, tr. 8 Tác giả Lê Minh Cường (2019) trong bài viết “Đổi mới công tác Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên phổ thông” [11, tr. 33-36] đã khẳng định tầm quan trọng của quá trình đào tạo, Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên ở trường phổ thông.
Tác giả đã xác định các cấp độ, biểu hiện của NLDH của GV phổ thông và đề xuất quy trình Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên phổ thông. Nghiên cứu về NLDH và BD NL cho đội ngũ GV TH, tác giả Võ Thanh Hà và Phan Quốc Lâm (2016) trong bài viết “NLDH theo CNN của đội ngũ GV TH huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai” [15, tr.17-19] đã xây dựng khái niệm về NLDH, xác định những biểu hiện của NLDH theo quá trình DH như: NL lập kế hoạch DH, NL tổ chức DH trên lớp, NL Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, NL QL hồ sơ DH. Tác giả Đậu Thị Hòa (2018) từ việc phân tích những NL cơ bản của GV trong thế kỉ XXI đã xác định những NL cần BD cho giáo viên tiểu học gồm: “NL thiết kế kế hoạch DH (thiết kế bài dạy); NL hiểu trình độ HS trong DH và GD; NL “chế biến” tài liệu học tập (phát triển chương trình); NL tri thức và hiểu biết của GV; NL sử dụng PP và KTDH; NL sử dụng phương tiện DH và công nghệ thông tin hỗ trợ DH; NL ngôn ngữ” [20, tr. Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học nhằm xây dựng đội ngũ GV TH đáp ứng được yêu cầu của GD trong thế kỷ XXI.
Ở góc độ nghiên cứu về các NL thành phần của NLDH, Nguyễn Thị Ngọc Phúc (2018) trong nghiên cứu “PTNLDH trải nghiệm cho giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới GD” [31, tr.22-24] đã làm rõ khái niệm NLDH trải nghiệm; sự cần thiết phải PTNLDH trải nghiệm cho giáo viên và đưa ra những định hướng phát triển và nâng cao NLDH trải nghiệm ở nhiều góc độ: đối tượng, nội dung, hình thức tổ chức. Từ góc độ NLDH môn học, Vũ Trọng Đông (2015) nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao NLDH môn Tự nhiên - xã hội cho giáo viên tiểu học” [13, 9 tr. Tác giả đã đề xuất các biện pháp gồm: Nâng cao nhận thức của CBQL và GV về vai trò của môn Tự nhiên - xã hội ở TH; BD kiến thức về tự nhiên xã hội cho giáo viên tiểu học; BD lý luận DH các môn Tự nhiên - xã hội; tăng cường CSVC và BD NL sử dụng thiết bị DH các môn Tự nhiên - xã hội cho giáo viên tiểu học. Huỳnh Thái Lộc (2018) nghiên cứu về “Một số biện pháp PTNLDH môn Toán cho giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu của mô hình trường học mới tại Việt Nam” [27, tr.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích những đặc trưng của mô hình trường học mới tại Việt Nam; biểu hiện, mức độ một số NL DH Toán của GV TH đáp ứng yêu cầu đặc trưng của mô hình trường học mới và đề xuất các biện pháp PTNLDH Toán cho giáo viên tiểu học, đáp ứng yêu cầu đặc trưng của mô hình trường học mới tại Việt Nam Tác giả Chu Thị Hảo (2020) nghiên cứu về NLDH tích hợp trong bài viết “Thực trạng NLDH tích hợp của GV trung học cơ sở tỉnh Phú Thọ theo CNN GV cơ sở GD phổ thông” [17, tr. Tác giả đã chỉ ra sự cần thiết BD NLDH tích hợp cho giáo viên trước yêu cầu của chương trình GD hiện nay; làm rõ một số khái niệm về NLDH tích hợp; tiến hành khảo sát NLDH tích hợp của GV trung học cơ sở tỉnh Phú Thọ và đề xuất biện pháp đào tạo, BD NLDH tích hợp. Nguyễn Thị Hằng Nga, Trần Thị Thanh Huyền (2020) trong bài viết “Nâng cao NLDH phân hóa cho giáo viên đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018” [29, tr.5-9] đã trình bày quan niệm về DH phân hóa, phân tích những đặc trưng của DH phân hóa và đề xuất một số biện pháp nâng cao NLDH phân hóa cho giáo viên đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018. Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng, NLDH và BD NLDH là vấn đề mà ở mọi nền GD, mọi quốc gia trên thế giới đều quan tâm nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với GD nhà trường.
Các nghiên cứu về NLDH và Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học được nghiên cứu ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau, từ những 10 nghiên cứu chung cho đến những nghiên cứu về NLDH của GV ở TH, ở từng môn học, những NLDH đặc thù. Những nghiên cứu này đã cung cấp hệ thống khái niệm NLDH, Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học, đưa ra những quan niệm về các thành phần của NLDH của GV TH, phân tích sự tất yếu của Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học, đồng thời cũng đề xuất những mô hình, biện pháp BD NLDH cho dội ngũ GV TH. Đây là nền tảng cơ sở lý luận quan trọng để luận văn xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu. Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học Khoa học QL là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới như Frederich Wiliam Taylor, Harold Kontz, H.
Fayon, James Stiner, Stenphen Robbins,. quan tâm, phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình. Từ QL kinh tế, các nhà nghiên cứu đã vận dụng vào lĩnh vực GD. Những lý thuyết về QL GD của M.Kondacov, A Faraxep đã chỉ ra rằng QL GD là điều kiện để đảm bảo cho nền GD vận hành theo những mục tiêu mong muốn.
QL BD NL dạy học cho giáo viên là một bộ phận của QL GD, có mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đáp ứng với những sự thay đổi của nền GD trên cơ sở sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Ở thế kỷ XX, có hai xu hướng chính trong tiếp cận QL BD NL dạy học cho giáo viên là tiếp cận theo chuẩn hóa nghề nghiệp và tiếp cận NL. Theo hướng chuẩn hóa nghề nghiệp, QL BD GV được tiến hành trên cơ sở những bộ công cụ chuẩn hóa NL nghề nghiệp của GV.