Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước của Bộ Giao thông vận tải về trật tự an toàn giao thông đường bộ Chương 3: Quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước của Bộ Giao thông vận tải về trật tự an toàn giao thông đường bộ 7 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ 1. Giao thông đƣờng bộ và trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ 1. Khái niệm giao thông đường bộ Khi nói đến giao thông là nói đến “việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia bằng phương tiện chuyên chở” [34, tr. Ở mỗi thời đại và mỗi quốc gia giao thông đòi hỏi có tính tất yếu, cần thiết của quá trình phát triển đời sống xã hội.
Sự phát triển của giao thông mang tính lịch sử và phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế, khoa học - công nghệ nhất định. Xã hội càng phát triển thì đòi hỏi hoạt động giao thông nói chung phải ngày càng hiện đại, phục vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, văn minh và an toàn hơn. Lịch sử phát triển của xã hội loài người có thể nói từ khi còn sơ khai đến xã hội văn minh ngày nay đều gắn bó chặt chẽ với hoạt động giao thông mà trước hết là GTĐB, sau đó mới phát triển các loại hình giao thông khác như giao thông đường thủy, giao thông đường sắt, giao thông đường không. Sự phát triển của hoạt động GTĐB cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
Theo Từ điển Tiếng Việt, đường bộ được hiểu là “đường đi trên đất liền” [34, tr. Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ”. Như vậy, giao thông đường bộ được hiểu là việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia của người và phương tiện chuyên chở trên đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà qua sông, suối nối đường bộ. GTĐB và phát triển GTĐB đang được xem xét ở nhiều góc độ kinh tế - xã hội, chính trị dưới sự tác động của sự phát triển khoa học - kỹ thuật tiên tiến.
GTĐB là một hiện tượng xã hội có xu hướng biến động mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia. Bởi vì: GTĐB là một nhu cầu tự nhiên của xã hội loài người. Có thể nhận thấy, hoạt động đi lại, đặc biệt là đi lại bằng đường bộ hay gọi là GTĐB đóng vai trò thiết yếu, quan trọng của loài người và ngày nay đang không ngừng phát triển từ phương tiện, hình thức đến xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Khái niệm và đặc điểm trật tự an toàn giao thông đường bộ Từng cá thể con người, tổ chức người nhất định không thể tự lo để thỏa mãn nhu cầu của mình.
Đặc biệt, để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường, chỉ có Nhà nước mới có thể xây dựng kết cấu HTGT đường bộ. Mặc dù, ở mức độ nào đó, Nhà nước phải huy động sức dân, nhưng trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Trách nhiệm này mang tính pháp lý được quy định trong chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Các quan hệ xã hội diễn ra trong lĩnh vực GTĐB là đối tượng quản lý của Nhà nước.
Nhà nước kiểm soát, hướng dẫn, điều chỉnh các quan hệ xã hội để các quan hệ này diễn ra “trong vòng trật tự”. Các quan hệ xã hội phát sinh trong GTĐB diễn ra bởi nhiều chủ thể với những mục đích kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh khác nhau và cần được định chế hóa, quy phạm hóa và tiến tới pháp điển hóa. Các quan hệ xã hội trong lĩnh vực GTĐB cũng như vậy, kết quả của quá trình định chế hóa, quy phạm hóa, pháp điển hóa là Luật giao thông đường bộ năm 2001 được ban hành. Tóm lại, từ vai trò tất yếu của GTĐB và những vấn đề QLNN nêu trên là cơ sở, có tính điều kiện để nghiên cứu khái niệm về trật tự an toàn GTĐB và QLNN về trật tự an toàn GTĐB.
Trên thực tế, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về trật tự an toàn GTĐB. Có ý kiến cho rằng: “Trật tự an toàn GTĐB là sự bảo đảm cho mọi hoạt động giao thông được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thông suốt và mỹ quan môi trường; hạn chế thấp nhất các vi phạm Luật giao thông đường bộ và các quy phạm pháp luật về trật tự ATGT, kiềm chế TNGT, ngăn ngừa thiệt hại do TNGT gây ra” [15]. Quan niệm khác cho rằng: “Trật tự an toàn GTĐB là việc chấp hành triệt để những yêu cầu về kỹ thuật, quản lý đối với các công trình giao thông và phương tiện giao thông, quy định đối với người tham gia giao thông khi hoạt động trên đường bộ, là cho giao thông được trật tự, an toàn, thông suốt, thuận tiện”. Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, năm 2005 thì: “Trật tự, an toàn giao thông - trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo, nhờ đó bảo đảm cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông, gây thiệt hại về người và tài sản.
Trật tự, an toàn giao thông là một mặt của trật tự, an toàn xã hội” [35, tr. 9 Luan van Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Trật tự, an toàn giao thông đường bộ là trạng thái xã hội được điều chỉnh bằng hệ thống quy phạm pháp luật bắt buộc mọi chủ thể tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo và xử sự có văn hóa nhằm bảo đảm an toàn cho người và tài sản khi tham gia giao thông; hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, giao thông được tiện lợi, thông suốt, an toàn, có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu mỹ quan giao thông, chống ô nhiễm môi trường. Trật tự an toàn GTĐB là việc các đối tượng tham gia giao thông thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về GTĐB do Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm GTĐB được thông suốt; người, hàng hóa, phương tiện tham gia giao thông không bị xâm hại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa và nhu cầu đi lại của nhân dân, góp phần ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm trên các tuyến đường và ở từng địa bàn. Trật tự an toàn GTĐB được bảo đảm thể hiện: mọi hoạt động giao thông được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện; bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm và trật tự, an toàn vệ sinh môi trường, mỹ quan đô thị.
Trật tự an toàn GTĐB là vấn đề xã hội gắn liền với cuộc sống con người, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của con người. Xã hội càng hiện đại, văn minh, yêu cầu về trật tự an toàn GTĐB càng cao. Nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, khi mà độ an toàn, chi phí trong lưu thông vận chuyển đã kết tinh thành giá cả hàng hóa thì trật tự an toàn GTĐB còn được xem là tiêu chí quan trọng để xem xét việc có quyết định đầu tư kinh doanh và mở rộng sản xuất hay không. Trật tự an toàn GTĐB là một nội dung của trật tự ATGT nói chung và một mặt cấu thành của trật tự, an toàn xã hội.
Nếu trật tự an toàn GTĐB được đảm bảo sẽ góp phần giữ gìn trật tự ATGT một cách ổn định và theo đó mọi hoạt động của xã hội nói chung cũng như của từng người dân nói riêng đều đạt được mục đích nhất định. Ý nghĩa của việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ Từ những khái niệm nêu trên, ta nhận thấy công tác đảm bảo, giữ gìn trật tự an toàn GTĐB giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của chúng ta. Xuất phát từ công tác đảm bảo trật tự an toàn GTĐB và thực tế công tác quản lý nhà nước, 10 Luan van tình hình thực tiễn của hoạt động này, có thể nhận thấy chúng có một số ý nghĩa hết sức quan trọng sau: Thứ nhất, giúp giảm thiểu thiệt hại cho xã hội, cho người dân và giữ gìn duy trì trật tự khi tham gia vào một trong những hoạt động thiết yếu của con người là ăn ở, mặc đi lại. Thực tế ta thấy, theo báo cáo của Cục Cảnh sát Đường bộ, đường sắt – Bộ Công an, trong năm 2016 cả nước xảy ra 22.827 vụ tai nạn giao thông làm 8.727 người chết, 21.069 người bị thương.
Mặc dù số liệu có giảm 3 tiêu chí so với năm 2014 nhưng trung bình mỗi ngày vẫn có 24 người bị chết khi tham gia giao thông. Thiệt hại vật chất của người dân và xã hội là rất lớn, hàng nghìn tỷ đồng. Đó là những con số vô cùng nhức nhối đòi hỏi các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị phải vào cuộc để góp phần giảm thiểu thiệt hại xảy ra. Xuất phát từ đó, công tác đảm bảo trật tự an toàn GTĐB có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ này.
Thứ hai, việc đảm bảo trật tự ATGT như đã đề cập được thể hiện ở công tác quản lý trên 3 lĩnh vực chính là: người tham gia giao thông, phương tiện tham gia giao thông và kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Ngoài việc tác động đến ý thức người tham gia giao thông, tăng cường công tác quản lý điều kiện tham gia giao thông của các phương tiện như đăng kiểm, giấy phép … cơ quan quản lý nhà nước cần nâng cao chất lượng, điều kiện kết cấu hạ tầng để tạo điều kiện cho người tham gia giao thông. Chính vì vậy, các công trình như đường quốc lộ, đường cao tốc, cầu, cống, công trình giao thông bên cạnh việc phục vụ giao thông còn được coi là bộ mặt của đất nước, là tiêu chí để đánh giá sự phát triển của đất nước. Năm 2014, tại Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) có báo cáo xúc tiến thương mại toàn cầu (Enabling Trade Index – ETI) thực hiện tại 138 nước cho thấy, mức hữu dụng và chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam năm 2014 tăng 16 bậc, đứng thứ 74 so với vị trí 90 năm 2012 và 103 năm 2010.