Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ Campuchia - Việt Nam từ năm 2013 - 2021. Trong phần này, Luận văn sẽ tập trung đi sâu phân tích về những nhân tố chủ quan và khách quan có tác động trực tiếp, gián tiếp tới quan hệ Campuchia - Việt Nam. Chương 2: Thực trạng quan hệ Campuchia - Việt Nam từ năm 2013- 2021. Quan hệ hai nước được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước từ chính tri, ngoại giao, an ninh quốc phòng, kinh té thuong mai va dau tu.
Chương 3: Đánh giá quan hệ Campuchia - Việt Nam từ năm 2013 - 2021. Nêu bật những thành tựu đã đạt được bên cạnh những điểm tồn đọng, hạn chế. Luận văn cũng nêu một số khuyến nghị mang tính đóng góp định hướng cho quan hệ Campuchia - Việt Nam trong thời gian tới. CÁC NHÂN TO TÁC ĐỘNG DEN QUAN HỆ CAMPUCHIA - VIỆT NAM TỪ NĂM 2013 DEN NAM 2021 1.
Tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á 1. Tình hình thế giới Kê đầu năm 2013 tới năm, quan hệ Mỹ - Trung Quốc chuyền sang giai đoạn cạnh tranh chiến lược toản điện và quyết liệt, thậm chí được nhìn nhận là “chiến tranh lạnh 2. Diễn biến mới này tác động tới toàn bộ cục diện chính trị, an ninh thế giới, trước hết là khu vực Đông Nam Á, nơi đã và đang là tâm điểm cạnh tranh giữa các cường quốc [Trần Xuân Hiệp, 2018, tr 45- 50]. Trên lĩnh vực thương mại, Mỹ đề ra nhiều biện pháp ngăn chặn hoạt động kinh tế phi thị trường, thậm chí được cho là “phi pháp” của Trung Quốc, như: ngăn chặn hoạt động tình báo công nghiệp của Trung Quốc; kiểm soát chặt các hợp đồng Chính phủ Mỹ ký với ZTE và Huawei, hai tập đoàn sản xuất và kinh doanh công nghệ cao hàng đầu của Trung Quốc, tăng cường giám sát các khoản đầu tư của Trung Quốc ở Mỹ.
Cùng với đó, Washington chủ trương thành lập liên minh đối thoại an ninh bốn bên, gồm Mỹ, Nhật Ban, An Độ va Australia (nhóm QUAD) còn được biết đến với tên gọi Tứ giác kim cương. Trên cơ sở đó, thu hút các đối tác trong khu vực tham gia, nhằm đối phó với chính sách cường quyền trên biển của Trung Quốc. Mặc dù Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất, song vị trí, uy tín quốc tế ngay cả đối với các nước đồng minh đã không còn như trước. Cục diện thế giới hiện nay và trong những năm tới cũng không phải là “đa cực” vì nói chung các quốc gia sẽ không “xếp hàng” theo các “cực” như trước mà tìm kiếm sự tập hợp lực lượng đa dang, đan xen, uyén chuyền hơn.
Nhìn chung, thế giới đã và sẽ xuất hiện vô số sự tập hợp lực lượng đa dạng về hình thức, lĩnh vực, thành phần ở tầm tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toan cầu, tạo nên thê đa cực đan xen nhau. Tình hình khu vực Đông Nam Á * Về tiến trình hội nhập của ASEAN: Hiện nay, Đông Nam Á là khu vực phát triển năng động, có quan hệ tích cực với tất cả các nước lớn và duy trì được “vai trò dan dắt” trong các thé chế khu vực. Từ năm 1992, ASEAN đã thúc đây tiễn trình hội nhập kinh tế khu vực thông qua trọng tâm là hình thành một hiệp định thương mại tự do giữa các nước trong khối ASEAN (AFTA). Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hình thành năm 2015 đã đáp ứng các nhu cầu của khu vực, từ đó giúp ASEAN vượt qua những thách thức nêu trên, từng bước xây dựng một khu vực năng động, có tính cạnh tranh cao trên thé giới.
AEC tập trung vào các biện pháp tạo thuận lợi hóa thương mai, dịch vụ, đầu tư, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyền hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển thể nhân. Các biện pháp nói trên đều đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai cụ thể thông qua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) và Hiệp định Dau tư Toàn điện ASEAN (ACIA), Hiệp định khung về Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) [Ponciano S. 14-16], gồm các nguyên tắc điều chỉnh thương mại nội khối dựa trên cơ sở các quy định của WTO và mức độ mở cửa thi trường rất cao. Nhăm mở rộng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, ASEAN đã và dang day mạnh triển khai các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với các nước đối tác bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Án Độ, FTA ASEAN - Australia - New Zealand, Hongkong (Trung Quốc).
Hiện nay, ASEAN đang tiễn hành đàm phán nâng cấp 03 FTA với các đối tác bao gồm: Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia và New Zealand. Ngoài ra, ASEAN cũng đang cân nhắc về khả năng đàm phán FTA với Canada và Liên minh châu Âu (EU) 20 [Trần Việt Thái, 2020, tr. 48-55] Tuy nhiên, van dé chênh lệch về phát triển kinh tế trong các nước ASEAN đã cản trở tiến trình hợp tác giữa các nước ASEAN. Mức độ phát triển khác nhau giữa các quốc gia ASEAN gây khó khăn cho các nước khi làm việc cùng nhau và gắn bó khăng khít trên quy mô lớn.
Ngoài ra, sự khác biệt trong hệ thống chính trị giữa các nước ASEAN khiến khả năng hợp tác giữa các nước trở nên khó khăn hơn, thậm chí có thê gây ra những xung đột giữa các quốc gia. * Về cạnh tranh ảnh hưởng của nước lớn tại Đông Nam Á: Hiện nay ASEAN đang phải đối mặt với một số thách thức, nỗi lên đầu tiên là tác động tiêu cực từ cuộc chiến thương mại cũng như sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; sự đoàn kết, thống nhất nội khối ít nhiều chịu tác động tiêu cực từ những diễn biến mới này. Tuy nhiên, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc cũng tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với các nước Đông Nam Á. Từ phía Mỹ, sau khi áp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc, cùng với đó Mỹ sẽ tìm các nguồn nhập khẩu từ các thị trường khác thay thế, trong đó có các quốc gia Đông Nam Á.
Ngược lại, khi Bắc Kinh đáp trả bằng việc áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ, trước hết là các mặt hàng nông sản và thủy sản, Trung Quốc sẽ gia tăng nhập khâu các mặt hàng này từ các nước Đông Nam Á [Nguyễn Thu Mỹ, 2015, tr. Đây là cơ hội lịch sử để các quốc gia Đông Nam Á có thể xuất khâu hàng tiêu dùng, trước hết là lương thực, thực phẩm sang Trung Quốc. - Về cạnh tranh lợi ích trên Biển Đông: Van đề Biên Đông van đang nhận được sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc thúc day đàm phán về “Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC) việc xây dựng các quy tắc khu vực sẽ bước vào giai đoạn cạnh tranh chủ quyền và sức ảnh hưởng, dẫn đến những bất 6n hoặc những bất ngờ mới.
Trong khi đó, các chính sách và biện pháp của Hoa Kỳ ở Biển Đông liên tục đổi mới và ý định sử dụng vân đê Biên Đông đê kiêm chê Trung Quôc đã trở nên rõ 21 rang. Từ công khai tuyên bồ việc coi các tàu cá và tàu cảnh sát hàng hải của Trung Quốc “hợp tác với quân đội” ở Biển Đông như các tàu hải quân, cho đến việc tuyên bố rang sẽ bảo vệ an ninh cho quân đội Philippines, máy bay hoặc tàu chính phủ đã bị tan công bang vũ lực ở Biển Đông theo Điều 4 “Hiệp ước phòng thủ chung Hoa Kỳ-Philippines”, tiếp đến là việc triển khai một số tàu chiến đấu duyên hải ở Singapore dé thực hiện “tự do hàng hải” chống lại Trung Quốc [Nguyễn Thành Văn, 2018, tr 10-15]. Mỹ cũng triển khai lực lượng bảo vệ bờ biển ở Biển Đông dé hỗ trợ Hải quân hoạt động, Hoa Kỳ đã thiết lập đồng bộ các biện pháp ngoại giao và quân sự, thúc đây quân sự và “bán quân sự” phối hợp hệ thống mạng ngăn chặn sự tham gia tích cực của các đối tác liên minh. Hiện nay, các tranh chấp trên Biển Đông vẫn chưa có biện pháp giải quyết hữu hiệu, Các biện pháp ngoại giao nhằm mục đích kiểm soát các xung đột, hay các giải pháp đưa ra cũng bị giới hạn rất nhiều.
Tuyên bố về Biển Đông của ASEAN năm 1992 chỉ giới hạn được trong phạm vi các thành viên trong khối ASEAN, còn Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 dựa trên lập trường đa phương nhằm giải quyết xung đột băng những phương pháp hòa bình * Vé các van dé an ninh phi truyền thống: Cộng đồng ASEAN phải đối mặt là van dé an ninh ngày càng nghiêm trong, vấn đề an ninh có thé dé dàng phá vỡ hoà bình mà các quốc gia vùng Đông Nam Á đã cố gắng thiết lập. Việc thành lập Cộng đồng ASEAN giúp người dân dễ dang di chuyển tdi Các quốc gia trong khu vực. Tình trạng ay tạo điều kiện thuận lợi cho những tổ chức khủng bố bành trướng thé lực, thu nạp thành viên. Đặc biệt, những nhóm chiến binh Hồi giáo có liên hệ với các tô chức khủng bố quốc tế lớn xuất hiện tại một số quốc gia Đông Nam Á trong vài thập kỷ qua.
Tiến trình hội nhập ngày một gia tăng giữa các nước ASEAN cũng tạo điều kiện cho tội phạm mạng ngày một gia tăng. Sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đang tác động tiêu cực đến kinh tế các nước ASEAN. Đến nay, tại khu vực 22 Đông Nam Á, dịch bệnh đã lan đến toàn bộ các quốc gia thành viên ASEAN. Mặc dù, nhiều nước đã đạt tỷ lệ tiêm vắc xin cao nhưng diễn biến của dịch bệnh vẫn hết sức phức tạp.
Dịch bệnh cũng tác động đến nền kinh tế các nước ASEAN, nhất là các ngành kinh doanh dịch vụ, vốn chiếm đến 30% tổng GDP của ASEAN, gây gián đoạn chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu [Vũ Dương Huân, 2020, tr 34-40]. Nhiều người dân đứng trước nguy cơ bị mat việc làm, an sinh xã hội bị thách thức. Nhiều hoạt động của ASEAN kể từ đầu năm 2020 cũng đã phải tạm hoãn hoặc lùi thời gian tổ chức, hoặc tô chức theo hình thức trực tuyến. Tình hình tại Campuchia 1.