Tiểu Luận Giữa Kỳ Về Quan Điểm Nhân Văn và Hiện Sinh trong Lý Thuyết Công Tác Xã Hội

Khám phá tiểu luận giữa kỳ về lý thuyết công tác xã hội, tập trung vào các quan điểm nhân văn và hiện sinh trong nghiên cứu xã hội.

Chuyên ngành

Lý Thuyết Công Tác Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu luận giữa kỳ

2021

68
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Quan Điểm Nhân Văn và Hiện Sinh trong Công Tác Xã Hội

Bài viết tập trung vào quan điểm nhân vănhiện sinh - một hệ thống lý thuyết quan trọng trong công tác xã hội. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò trung tâm của con người, coi con người là mối quan tâm hàng đầu, phù hợp với bản chất của công tác xã hội là vì con người.

1.1. Nguồn gốc và sự hình thành

Quan điểm nhân văn xuất hiện như một phản ứng đối với các cách tiếp cận máy móc, thiếu tính cá nhân hóa trong tâm lý học. Chủ nghĩa nhân văn đề cao tiềm năng tốt đẹp của con người. Chủ nghĩa hiện sinh lại tập trung vào ý chí tự do, sự lựa chọn và ý nghĩa cuộc sống. Hai trường phái này kết hợp, tạo nên quan điểm nhân văn - hiện sinh, chú trọng vào đời sống nội tâm và tiềm năng của con người. Sự kết hợp này được thúc đẩy bởi sự sụp đổ của các mô hình trị liệu kém hiệu quả và nhu cầu nhìn nhận con người một cách toàn diện hơn.

1.2. Các khái niệm chính trong trường phái nhân văn hiện sinh

Trường phái nhân văn - hiện sinh bao gồm nhiều khái niệm then chốt như: nhận thức (awareness), hiện thân (embodiedness), tính hữu hạn (finitude), tính chủ quan (subjectivity), tính tự chủ (autonomy), sự hiện hữu (presence), tách biệt nhưng vẫn liên hệ (separate but related), học tập (learning), tìm kiếm (searching). Các khái niệm này góp phần tạo nên một hệ thống lý thuyết sâu sắc về con người, về cách con người nhận thức bản thân, thế giới và tương tác với thế giới.

1.3. Hệ thống kiến tạo Ngã và Thế giới và các yếu tố thực tại

Bài viết giới thiệu Hệ thống kiến tạo Ngã-và-Thế giới (Self-and-World Construct System) - cách con người xây dựng hình ảnh bản thân và thế giới quan của mình. Hệ thống này chịu tác động bởi các yếu tố thực tại (existential "givens") như khả năng hành động (actionable), phản kháng và phòng vệ (resistance and defenses).

01/02/2025
Tiểu luận tiểu luận giữa kỳ bộ môn lý thuyết công tác xã hội chủ đề các quan điểm nhân văn và hiện sinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Công tác xã hội là một ngành khoa học tương đối non trẻ trên thế giới, tính chất chuyên nghiệp mới được hình thành hơn 100 năm nay mặc dù có nguồn gốc hình thành từ xa xưa. Công tác xã hội là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người và hệ thống xã hội nhằm xây dựng và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, địa vị, vai trò của các các nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế tiến tới bình đẳng và tiến bộ xã hội. Lý thuyết là thành tố cơ bản trong hành nghề nó dẫn dắt NVXH (Nhân viên xã hội) tới cái nhìn nhận và tiếp cận cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng và xã hội. Lý thuyết giúp dự đoán, giải thích và đánh giá hoàn cảnh, hành vi và cung cấp một nhân tố cơ bản trong việc làm thế nào NVXH phản ứng và can thiệp với thân chủ người có tiêu sử vấn đề và mục tiêu đặc thù.

Các lý thuyết thường thông tin cho NVXH về các dạng phương pháp được đánh giá cao nhất để làm việc với thân chủ. NVXH có nhiệm vụ tiếp cận, đánh giá và cung cấp sự ngăn chặn hoặc phương pháp làm việc với thân chủ dựa trên các lý thuyết tâm lý, xã hội học và CTXH. Vì vậy NVXH có trách nhiệm đạo đức và tính chuyên nghiệp để có kiến thức về xây dựng và nghiên trách nhiệm đạo đức và tính chuyên nghiệp để có kiến thức về xây dựng và nghiên cứu các lý thuyết xung quanh giá trị CTXH để tiếp tục thảo ra dựa trên các lý thuyết đó trong thực hành CTXH. Một trong những hệ thống lý thuyết được vận dụng trong CTXH không thể không nhắc tới hệ thống quan điểm nhân văn – hiện sinh.

Thuyết nhân văn hiện sinh là cách thức nhìn nhận cuộc sống, dựa trên những nền tảng triết lý vững chắc về con người và khả năng tiềm tàng của họ trong việc làm chủ thế giới. Những người theo thuyết nhân văn hiện sinh luôn tập trung khích lệ khả năng của con người. Họ có niềm tin vững chắc về sức mạnh của con người trong việc kiểm soát cuộc sống. Vận dụng trong mối quan hệ giữa Thân chủ và Nhân viên xã hội, Các quan điểm và mô hình lý thuyết thuộc trường phái nhân văn hiện sinh đóng vai trò là kim chỉ nam của Công tác xã hội.

Quan điểm nhân văn hiện sinh không chỉ là một lý thuyết mà còn là triết lý nghề Công tác xã hội. Quan điểm này ảnh hưởng đến việc hình thành các phương pháp và mô hình trong thực hành Công tác xã hội. Đối tượng phục vụ của Công tác xã hội là con người vì vậy muốn thực sự giúp đỡ con người, đáp ứng những quyền cơ bản của con người, thực hiện công bằng xã hội thì cần phải trang bị một nền tảng triết lý lấy con người làm trung tâm. Quan điểm nhân văn hiện sinh coi con người là mối quan tâm hàng đầu của xã hội, đây cũng là nền tảng triết lý cơ bản của nghề Công tác xã hội.

Tổng quan về quan điểm nhân văn - hiện sinh 1. Nguồn gốc Trào lưu triết học nhân văn – hiện sinh (existential-humanistic approach) có cơ sở từ trong tất cả những tư tưởng của con người về sự nhiệm màu của ý thức và của cuộc sống. Chúng ta có thể phát hiện những cội nguồn của trào lưu này ngay từ thời có những quan điểm muốn “khách thể hóa” (objectify) những trải nghiệm của con người như những lý thuyết và mô hình chính trị của Aristotle (Chính trị luận, 10), triết học duy lý của Descartes,. cho đến những khuynh hướng hiện đại hơn muốn nhấn mạnh “tính chủ quan” của con người (human subjectivity) của các học giả trong thế kỷ 20 như hiện tượng luận của E.

Husserl và sự tự sáng tạo của chủ thể tư duy, quan niệm về hữu thể của tư tưởng Heidegger, quan điểm về con người và đạo đức con người của Sartre,và triết học về con người – chủ thế sống của Merleau-Ponty.1 Chủ nghĩa nhân văn phương pháp tiếp cận nhân văn Cách tiếp cận nhân văn xuất hiện, một phần, như một phản ứng đối với cả cách tiếp cận phân tâm học/tâm động học và cách tiếp cận hành vi. Các nhà nhân văn học coi các mô hình hành vi là máy móc và quá tập trung vào quan điểm khách quan, thiếu hiểu biết và quan tâm đến chiều sâu của kinh nghiệm, ý thức và sự phát triển nhân cách của con người. Họ cũng xem các phương pháp tiếp cận phân tích và tâm lý học là lạnh lùng, xa cách và quá xác định liên quan đến sự phát triển của con người, đặc biệt là quan niệm cho rằng những trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu tạo ra "sự cố định" hoặc một người không có khả năng tiến bộ trong cuộc sống của họ. Họ cũng tin rằng những cách tiếp cận này chủ yếu tập trung vào bệnh lý, điều gì xảy ra với ai đó, hơn là thừa nhận sự sáng tạo, tăng trưởng và thích ứng của con người.

Abraham Maslow, một trong những nhân vật chính trong phong trào nhân văn nói, “Cứ như thể Freud đã cung cấp cho chúng ta một nửa tâm lý bệnh tật và bây giờ chúng ta phải lấp đầy nó bằng một nửa khỏe mạnh”. Chủ nghĩa nhân văn đề cử việc đảm trách đi tìm chân lý và đạo đức bằng những phương tiện của con người để phục vụ lợi ích của con người. Quan điểm nhân văn trong tâm lý học nhấn mạnh tiềm năng tốt đẹp bẩm sinh của tất cả con người. Chủ nghĩa hiện sinh và phương pháp tiếp cận Một yếu tố đóng góp khác cho chủ nghĩa nhân văn là chủ nghĩa hiện sinh, một cách tiếp cận triết học nhấn mạnh cái nhìn toàn diện về con người, xác nhận bản chất của cảm xúc, suy nghĩ, hành vi và lựa chọn của con người.

Thuyết hiện sinh tập trung vào khả năng và nhu cầu của con người trong việc xác định và tìm ra ý nghĩa hoặc mục đích của chính họ trong một thế giới “phi lý” không có bất kỳ ý nghĩa bẩm sinh nào đối với nó. Theo nhiều cách, nó lặp lại những nguyên tắc cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn và sự bác bỏ thuyết xác định tâm động học và tính khách quan của chủ nghĩa hành vi. Các phương pháp tiếp cận hiện sinh khác với chủ nghĩa nhân văn ở điểm nhấn mạnh hơn nữa vào ý chí tự do, sự lựa chọn, quyền tự quyết và việc tìm kiếm ý nghĩa và mục đích. Một khái niệm quan trọng trong chủ nghĩa hiện sinh là tức giận hoặc lo lắng, được tạo ra chủ yếu bởi trách nhiệm đi kèm với tự do; ý chí tự do truyền đạt ý thức trách nhiệm về những lựa chọn mà chúng ta đưa ra và những hậu quả trong tương lai của chúng.

cũng liên quan đến nhu cầu chấp nhận sự không thể tránh khỏi của cái chết của chính mình và cái chết trong tương lai để có một cuộc sống trọn vẹn. Các khái niệm quan trọng khác bao gồm tính xác thực, đó là một người sống cuộc sống mà họ đã cố tình chọn đến mức tối đa có thể, và sự tuyệt vọng, hơi khác so với cách sử dụng thông thường của thuật ngữ đó để chỉ trải nghiệm cảm xúc khi thất vọng hoặc không thể sống cuộc sống mà một người dự định tạo ra. Ví dụ, một sinh viên đã mơ ước cả đời mình trở thành một bác sĩ có thể cảm thấy tuyệt vọng nếu cô ấy không được nhận vào bất kỳ trường y khoa nào. Chủ nghĩa hiện sinh thường gắn liền với các tác phẩm và ý tưởng triết học của Jean-Paul Sartre, mặc dù nó đã được định hình bởi nhiều người khác, bao gồm Søren Kierkegaard, Simone de Beauvoir, Maurice Marleau-Ponty và Albert Camus.

Mặc dù mô tả như vậy về một số khái niệm cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh, không có trường phái hay kỷ luật thống nhất hoặc duy nhất của chủ nghĩa hiện sinh, mà có nhiều biến thể và hình thức khác nhau của cách tiếp cận triết học và tâm lý này. Lịch sử hình thành trường phái nhân văn – hiện sinh Những người theo chủ nghĩa hiện sinh và các nhà Tâm lý học như: Freud, Gordon Allport, Buber, William James, các triết gia Ortega y Gasset & Pascal… quan tâm đến ý nghĩa cốt yếu của các trải nghiệm trong nội tâm con người. Trong khi đó, quan điểm nhân văn (humanistic perspective) trong tâm lý học của Anderson, Bugental, Arthur Deikman, Erich Fromm, George Kelly, Sidney Jourard, Abraham Maslow, Carl Rogers phát triển mạnh trong khoảng 4 thập niên cuối thế kỷ 20, trở nên đồng điệu với trào lưu tư tưởng hiện sinh. Sự kết hợp 2 dòng tư tưởng hiện sinh & nhân văn tạo nên sự chú tâm sâu sắc đến bản chất con người: tình yêu, sự ganh ghét, tính trung thực, sự phản bội, lòng can đảm, sự giận dữ, đức hy sinh, sự toàn mỹ, tính sáng tạo, sự độc ác, và những chiều kích khác rất phong phú nhưng cũng đầy mâu thuẫn trong cuộc sống nội tâm của con người.

Đến thập niên 1960, sự sụp đổ các mô hình trị liệu kém hiệu lực của phân tâm cổ điển và tầm nhìn hạn chế của các nhà trị liệu tâm lý không phải phân tâm dẫn đến cần nhấn mạnh vai trò trung tâm của đời sống chủ quan con người: nhận thức, chú ý, xúc cảm… Các tác giả theo khuynh hướng nhân văn – hiện sinh đều có quan điểm chung - lòng tin vào sự thánh thiện & tiềm năng của con người. Do vậy có một “dòng sông” được tạo nên bởi ba nhánh phụ bao gồm: (1) Tâm lý học hiện sinh và triết học hiện sinh; (2) Tâm lý học nhân văn và (3) Phương pháp nghiên cứu và quan điểm hiện tượng học. Cả 3 cùng tương tác và có ảnh hưởng lên các quan điểm của trường phái nhân văn – hiện sinh. Các khái niệm có trong trường phái nhân văn – hiện sinh 3.

Sự nhận biết (awareness) Khả năng cơ bản nhất trong cuộc sống của con người đó là khả năng chú ý đến cả những gì bên ngoài bản thân và bên trong bản thân chúng ta. Từ chỗ nhận biết này mà phát sinh nên ý thức của chúng ta, khả năng nhận biết được ta đang nhận biết (awareness of being aware), mà điều này khiến cho cuộc sống con người có sự khác biệt về chất lượng (trong chừng mực những gì chúng ta biết được) so với các chủng loại khác trên hành tinh này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Quan Điểm Nhân Văn và Hiện Sinh trong Công Tác Xã Hội: Tiểu Luận Giữa Kỳ" khám phá những khía cạnh quan trọng của nhân văn và hiện sinh trong lĩnh vực công tác xã hội. Tác giả phân tích cách mà những quan điểm này ảnh hưởng đến phương pháp làm việc và tư duy của các chuyên gia trong ngành, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu và tôn trọng giá trị con người trong quá trình hỗ trợ cộng đồng. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về lý thuyết mà còn gợi ý những ứng dụng thực tiễn, giúp người đọc nhận thức rõ hơn về vai trò của công tác xã hội trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hứng thú học các môn tâm lý học của sinh viên khoa công tác xã hội trường đại học lao động xã hội. Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về mối liên hệ giữa tâm lý học và công tác xã hội, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về động lực học tập của sinh viên trong lĩnh vực này.