Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN VỊNH BẮC BỘ 1. Khái quát vùng biển Vịnh Bắc Bộ 1. Sơ lược về lịch sử Vịnh Bắc Bộ Kinh đô của nước Đại Việt từ triều đại nhà Lý được gọi là Thăng Long, năm 1397 thành Thăng Long được gọi là Đông Đô. Khi nhà Minh xâm lược nước ta vào năm 1407, Đại Việt bị phụ thuộc Trung Quốc (còn gọi là thời Minh thuộc trong lịch sử Việt Nam), cho đến năm 1408 nhà Hồ đổi tên Đông Đô thành Đông Quan.
Năm 1418 cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho Đại Việt vào năm 1427. Lê Thái Tổ đổi tên thành Đông Quan thành Đông Kinh [69]. Sau những cuộc phát kiến địa lý vào thế kỉ XV, ở Châu Á – Thái Bình Dương đã hình thành hai trục giao thương chính là : trục tuyến Bắc – Nam và Đông – Tây. Trục tuyến Đông – Tây với trạm dừng chân là Ấn Độ.
Từ đây, các tàu thuyền phương Tây qua eo Malacca, tới Indonesia, Xiêm, Đại Việt, Trung Quốc, Philippins và Nhật Bản [70]. Vào thời Bắc thuộc, Bắc Bộ Việt Nam được mang những tên như quận Giao Chỉ, rồi Giao Châu. Đến thời Trịnh – Nguyễn phân tranh , đây là vùng đất Đàng Ngoài do chúa Trịnh kiểm soát. Tên gọi Bắc Kỳ do vua Minh Mạng đặt ra vào năm 1834 để chỉ phần đất từ Ninh Bình trở ra phía Bắc của Việt Nam.
Tonkin Gulf là danh từ được người phương Tây dùng để chỉ xứ Đàng Ngoài thuộc thời Trịnh-Nguyễn phân tranh giai đoạn (1627-1775). Sang thế kỉ XIX địa danh Tonkin được người Pháp đặt tên cho vùng lãnh thổ phía Bắc Việt Nam. Vùng lãnh thổ này trong tiếng Việt được gọi là: Bắc Việt, Bắc –Kỳ, Bắc 13 – Bộ hay Bắc - Phần [67]. Vùng biển phía Đông của Bắc Việt là một phần của Biển Đông.
Vùng biển này là Vịnh Bắc Việt ( cũng được gọi là Vịnh Bắc Bộ hay Vịnh Bắc Phần là vịnh nước mặn nằm giữa Việt Nam và Trung Quốc). Điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội Vịnh Bắc Bộ nằm về phía Tây Bắc Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển miền Bắc Việt Nam, lục địa Trung Quốc, bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam (Trung Quốc) là một trong những Vịnh lớn ở Đông Nam Á và thế giới với diện tích khoảng 126.250 km², Vịnh Bắc Bộ trải rộng từ khoảng 17010’ đến 21055’ độ vĩ Bắc, 105036’ đến 109055’ độ kinh Đông; chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310km và nơi hẹp nhất khoảng 220 km; có hai cửa ra vào Vịnh: Một là, eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam rộng khoảng 35 km (19 hải lý) và hai là, cửa chính từ đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) tới mũi Oanh Ca (đảo Hải Nam – Trung Quốc) rộng khoảng 207 km (112 hải lý) [10,tr. Phần Vịnh phía Việt Nam tập trung khoảng 2312 đảo ven bờ với thắng cảnh Vịnh Hạ Long nổi tiếng. Phần Vịnh phía Trung Quốc chỉ có khoảng vài trăm đảo đá nhỏ ven bờ, lớn nhất là đảo Vị Châu ở Đông Bắc vịnh có diện tích rộng trên 30km2, cách đất liền Trung Quốc khoảng 35km (19 hải lý).
Ở giữa Vịnh có đảo Bạch Long Vĩ thuộc Việt Nam. Đảo rộng khoảng 2,5km2, nằm cách bờ Việt Nam 110km (59 hải lý) và bờ biển đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km (70 hải lý). Trong phạm vi đó, chiều dài bờ vịnh bên phía Việt Nam là 763 km, chạy qua 10 tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình,Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị. Bờ biển phía Trung Quốc dài 695 km, chạy qua 2 tỉnh Quảng Tây và Hải Nam.
Phía Việt Nam có hàng nghìn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm gần giữa Vịnh. Phía Trung Quốc chỉ có một số ít đảo nhỏ ở phía Đông Bắc 14 Vịnh như các đảo Vị Châu,Tà Dương. Vịnh Bắc Bộ tương đối nông (chiều sâu chưa tới 60 m). Sông Hồng là con sông chính chảy vào Vịnh này.
Thành phố Hải Phòng và thành phố Vinh (Nghệ An) của Việt Nam và Bắc Hải ở tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc là những thành phố có hải cảng chính trong vịnh. Các đảo nhỏ khác trong vịnh gồm đảo Bạch Long Vĩ, Cát Bà của Việt Nam và Vị Châu, Tà Dương của Trung Quốc, đảo Hải Nam của Trung Quốc là bờ phía Đông của Vịnh Bắc Bộ. Về mặt địa chiến lược, quốc phòng-an ninh, kinh tế: Vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ có ý nghĩa hết sức quan trọng về an ninh quốc phòng và kinh tế đối với nhân dân hai nước trong suốt lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Vịnh là nơi chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là hải sản và dầu khí.
Bên cạnh đó vịnh cũng là nơi để cho hai bên phát triển lĩnh vực kinh tế biển,thương mại quốc tế, logistic biển, khai thác các nguồn tài nguyên biển như dầu khí và các nguồn tài nguyên sinh vật, vi sinh vật khác. Trong vịnh có nhiều ngư trường lớn, cung cấp nguồn hải sản quan trọng cho đời sống của nhân dân hai nước. Đối với khu vực phía Nam Trung Quốc, vịnh cũng có vị trí quan trọng. Vì vậy cả hai nước đều rất coi trọng việc quản lý, sử dụng và khai thác Vịnh.
Sau năm 1887 cho đến trước năm 2000, Việt Nam và Trung Quốc chưa tiến hành đàm phán để phân định rõ ràng ở Vịnh Bắc Bộ. Ðiều này xuất phát từ thực tế khách quan là từ những năm 50 của thế kỷ XX trở về trước khi Luật Biển quốc tế chưa phát triển, các quốc gia ven biển thời kỳ đó chỉ có chủ quyền đối với lãnh hải rộng 03 hải lý và toàn bộ vùng biển nằm ngoài phạm vi lãnh hải được coi là biển quốc tế, không thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào. Trong bối cảnh đó, Công ước Pháp - Thanh năm 1887 chỉ tập trung giải quyết vấn đề hoạch định biên giới trên đất liền giữa hai nước và vấn đề quy 15 thuộc chủ quyền của mỗi nước đối với các đảo ở khu vực cửa sông Bắc Luân trong Vịnh Bắc Bộ [69]. Lịch sử vấn đề biên giới giữa Việt Nam – Trung Quốc Vào cuối thế kỉ XIX, Trung Quốc (Nhà Thanh) có âm mưu chiếm lấy những tỉnh ở về phía Bắc sông Hồng của Việt Nam.
Có thể thấy rõ bối cảnh lịch sử lúc đó là trong khi Pháp xâm lược Bắc Kỳ và buộc triều đình nhà Nguyễn phải ký Hiệp ước Patơnốt 1884, chấp nhận quyền bảo hộ của nước Pháp thì nhà Thanh (Trung Quốc) can thiệp.Vì Pháp muốn kiểm soát vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam và con đường nối từ Hà Nội đến tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Nhà Thanh ngược lại muốn ngăn cản sự hiện diện quân sự của Pháp ở Bắc Kỳ, vì điều này sẽ trực tiếp uy hiếp đến vùng biên giới phía Nam của họ. Sâu xa hơn nữa, nhà Thanh muốn nhân cơ hội này để chiếm đoạt hoặc là duy trì ảnh hưởng của mình đối với Việt Nam, vốn là thuộc quốc truyền thống của Trung Quốc. Vậy nên mâu thuẫn giữa Pháp –Thanh (Trung Quốc) về vấn đề Việt Nam là điều không tránh khỏi.
Chiến tranh Pháp – Thanh (Trung Quốc) đã diễn ra từ tháng 9/1884 tới tháng 6/1885 và kết thúc bằng bản Hiệp ước Thiên Tân được kí ngày 09/6 /1885, hiệp ước gồm 10 điều khoản được ký giữa chính phủ Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc) và hai bên sẽ bắt đầu việc phân định đường biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc. Theo đó trong điều 3 của Hiệp ước Thiên Tân 1885 với nội dung: Trong thời hạn sáu tháng sau khi kí hòa ước này, hai bên sẽ phái người đến khảo sát tại chỗ biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc; chỗ nào cần thì sẽ trồng cột mốc giới ở nơi dễ trông thấy. Trong trường hợp hai bên không thể đồng ý về nơi lập cột mốc giới hoặc về điểm nào khác thì mỗi bên phải trình lên chính phủ nước mình định liệu [35,tr. Đó là cơ sở pháp lý để chính phủ Pháp và nhà Thanh tiến hành việc hoạch định biên giới Việt – Trung (trong các văn bản hồi đó thường gọi là Biên giới Trung Quốc – Bắc Kỳ) [35,tr.
16 Quá trình hoạch định biên giới Việt Nam – Trung Quốc của Ủy ban Liên hợp giữa Pháp và Trung Quốc diễn ra từ tháng 01/1886 đến tháng 4/1887, trong đó việc hoạch định đường biên giới trên Vịnh Bắc Kỳ được tiến hành ở Móng Cái từ ngày 31/3/1883 đến ngày 08/4/1887[35,tr. Công ước hoạch định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ ký ngày 26/6/1887 là một văn bản pháp lý, phân định đường biên giới Bắc Kỳ - Trung Quốc trên đất liền và phân định hải phận của Bắc Kỳ - Trung Quốc trong Vịnh Bắc Việt. Nội dung về biên giới trên biển là các đảo ở về phía Đông của đường kinh tuyến Đông 105043’ Paris (đường thẳng Bắc-Nam) đi qua Đông điểm của đảo Trà Cổ và tạo thành đường biên giới thì thuộc về Trung Quốc. Nhìn lại quá trình đàm phán và thương thuyết giữa Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc) về vấn đề hoạch định và cắm mốc biên giới Việt – Trung cuối thế kỷ XIX.
Việt Nam rơi vào tình thế không thuận lợi vì sự hoạch định biên giới lại do Pháp lấy tư cách xâm lược mà tiến hành. Đây là cuộc đàm phán, thương thuyết giữa hai nước Pháp và Trung Quốc về vấn đề lãnh thổ biên giới của Việt Nam nhưng lại không có tiếng nói của Việt Nam. Nguyên nhân căn bản là mọi hoạt động ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp quyết định, khi chúng ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, chủ quyền của Việt Nam bị tước bỏ. Trong khi đàm phán thương thuyết giữa hai bên về biên giới, phía Nhà Thanh (Trung Quốc) lại chuẩn bị nội dung và phương sách một cách chi tiết bởi các nhà đàm phán có kinh nghiệm trước khi đưa ra bàn bạc với Pháp.
Mục đích của Công ước Pháp – Thanh năm 1887 rất rõ ràng là phân định đường biên giới và chủ quyền trên đất liền, vùng biển và các đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên trong Công ước không đề cập đến điểm chấm dứt của đường phân định biên giới trên biển và chủ quyền trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc và cũng không nói đến kinh tuyến 1050 43’ Paris là ranh giới phân định trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Từ đó không 17 có một thỏa ước nào khác phải ký kết về vấn đề biên giới trên biển giữa Trung Quốc và Pháp.