CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN TRƯỚC NĂM 2007 1. Tổng quan về đô thị và đô thị hoá 1. Khái niệm “đô thị” Đô thị là sản phẩm của lịch sử, ghi đậm dấu ấn của từng giai đoạn phát triển kinh tế, văn hóa của xã hội loài người. Đô thị là điểm mạnh trong không gian kinh tế, nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, trao đổi và tiêu thụ sản phẩm.
Đồng thời đô thị cũng là không gian xã hội với những điều kiện thuận lợi và đa dạng của đời sống sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Trình độ văn minh đô thị, chất lượng đô thị cũng có sự khác nhau theo không gian và thời gian. Đô thị ngày nay có nhiều điểm khác biệt so với đô thị thời xưa, sự khác biệt này được thể hiện qua sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, quy mô dân số cũng như tỉ lệ dân cư đô thị.Từ lâu đô thị đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, với những mức độ và phương diện khác nhau. Vì vậy, trong các nghiên cứu về đô thị trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều định nghĩa khác nhau.
Học giả Mumford trong quá trình nghiên cứu và giải thích nguồn gốc, chức năng của đô thị đã cho rằng, trước khi trở thành nơi cư trú, trước hết đô thị là nơi gặp gỡ mà con người đến hội tụ như chợ, điểm hành hương. Đó là nơi thiêng liêng mà các nhóm du mục trở về theo định kỳ, thực hiện các nghi thức cúng tế. Một phần, đền thờ, nơi diễn ra các nghi thức tế lễ đã tồn tại trước khi xây dựng các nhà xưởng, vòng thành, chợ trung tâm. Georges-Hubert de Radkowski, trong công trình “L’homme de la Villa” cũng nhấn mạnh dù tiềm năng hay hiện thực, cư dân đô thị “ở” không phải là ở nữa mà là giao tiếp [27, tr.
Theo những nhà quy hoạch đô thị Mỹ, đô thị là nơi tập trung dân cư với quy mô lớn tại một khu vực địa dư cụ thể, trong đó người ta hỗ trợ nhau một cách thường xuyên và sòng phẳng thông qua các họat động kinh tế của khu vực đó. và là nơi có cơ hội để có được môi trường sống đa dạng và nhiều kiểu sống khác nhau. Học giả Đức Richtofen thì cho rằng: “đô thị là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống không dựa vào nông nghiệp mà trước hết dựa vào công nghiệp” và ông cũng cho rằng, “người dân đô thị phải dựa trên hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và các nhu cầu sinh hoạt của họ chủ yếu do bên ngoài cung cấp” [38, tr. Xauskin, đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực 9 tiếp [38, tr.
Dưới góc độ lịch sử, Karl Marx đã nhìn nhận đô thị như sau: “Lịch sử cổ đại cổ điển là lịch sử của các đô thị, nhưng các đô thị này được xây dựng trên cơ sở chiếm hữu ruộng đất và trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp, có nghĩa là sự thâm nhập của các quan hệ nông thôn vào thành thị. Lịch sử hiện đại là sự thâm nhập của các quan hệ thành thị vào nông thôn.Lịch sử châu Á là sự thống nhất không phân chia giữa thành thị và nông thôn” [5, tr. Thực tế ngày nay, các quốc gia trên thế giới có tiêu chí và phương pháp khác nhau để xác định đô thị. Trong đó, 105 quốc gia thu thập dữ liệu dựa trên các tiêu chí hành chính, thủ đô hoặc thị xã, các đô thị tự trị hoặc thuộc phạm vi quản lý của địa phương khác.
83 quốc gia chỉ sử dụng tiêu chí hành chính để phân biệt đô thị và nông thôn. 100 quốc gia định nghĩa thành phố dựa trên số dân hoặc mật độ dân số, với mức độ tập trung tối thiểu từ 200 đến 50. 57 quốc gia sử dụng tiêu chí này là tiêu chí duy nhất. 25 quốc gia xác định đô thị chủ yếu dựa vào đặc điểm kinh tế, mặc dù không loại trừ các tiêu chí khác như tỷ lệ lực lượng lao động làm việc trong các ngành phi nông nghiệp.
18 quốc gia tính đến sự sẵn có của cơ sở hạ tầng đô thị trong định nghĩa của họ, bao gồm cả sự hiện diện của các con đường nhựa, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước hoặc điện. Cũng giống như ở nhiều nước trên thế giới, tại Việt Nam, giới học giả Việt Nam cũng đưa ra nhiều khái niệm, định nghĩa về đô thị. Trong tiếng Việt, có nhiều từ để chỉ khái niệm đô thị như thành phố, thị trấn, thị xã,. Các từ đó đều có hai thành tố: đô thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ.
Thời trước, chức năng hành chính lấn át chức năng kinh tế, bộ phận đảm nhận cai quản đô thị là do Nhà nước bổ nhiệm. Đô thị phương Tây có ít tính chính trị hơn và thiên về chức năng kinh tế. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa, đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. Còn trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, đô thị là nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể có cả nông nghiệp, thành phố hoặc thị trấn.
Giáo sư Nguyễn Thế Bá lại cho rằng, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện [1, tr. Các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh nhận định, đô thị là một tập hợp dân cư có một qui mô đáng kể, ở đó điều kiện sống được xem là theo kiểu đô thị, trái ngược với đời sống nông thông ở miền thôn quê Theo nghĩa đó, đô thị là một hiện tượng chung của xã hội văn minh. Dễ hiểu hơn, đô thị là sản phẩm của 10 văn minh nhân loại phát triển đến một trình độ nhất định, là hình thức quần cư phức tạp xuất hiện trong quá trình đô thị hóa, nó phản ánh một cách tổng hợp quá trình và trình độ phát triển của xã hội. Như vậy, từ các định nghĩa trên, có thể khái quát, đô thị là nơi tập trung đông dân cư, ở đó sản xuất phi nông nghiệp là chủ yếu và đô thị là một giai đoạn tiếp sau “nông nghiệp” trong tiến trình phát triển của lịch sử.
Phân loại đô thị Về vấn đề phân loại đô thị, trên thế giới và ở Việt Nam cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Theo học giả George, đô thị được sinh ra từ môi trường thương mại, đến thế kỷ XIX mới trở thành môi trường kỹ thuật và nhân văn. Ông cho rằng, đô thị gồm năm hình thái, phát triển theo năm nhóm, do đó khi định nghĩa đô thị cần xem xét các nhu cầu và phương thức thực hiện ở mỗi hệ thống: 1. Loại đô thị thứ nhất có dạng chợ nhỏ, kèm theo là trung tâm phòng thủ, hành chính và tôn giáo.
Đô thị xuất hiện chủ yếu ở các địa điểm thuận tiện để trao đổi thực phẩm hiếm (nhất là ở các cảng) hoặc trong các vòng thành. Có thể tìm thấy đô thị này ở Châu Á, Trung Quốc, Tibet. Loại đô thị thứ hai là các đô thị thương mại ở các thời kỳ khác nhau, trước khi xuất hiện nền kinh tế công nghiệp và tiền tư bản chủ nghĩa, chủ yếu diễn ra ở châu Âu và vùng Địa Trung Hải trước thế kỷ XIX. Loại đô thị thứ ba là các đô thị thương mại và công nghiệp, gồm nhiều loại, xuất phát từ cuộc cách mạng công nghiệp và tư bản chủ nghĩa, chủ yếu hình thành các đô thị thủ phủ công nghiệp ở châu Âu và Bắc Mỹ.
Loại đô thị thứ tư là các đô thị thuộc địa, do nhu cầu bành trướng kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu và thế kỷ XIX và XX, gồm các nước vẫn đang ở trong giai đoạn kinh tế và cơ cấu chính trị nông nghiệp. Loại đô thị thứ năm là đô thị xã hội chủ nghĩa, theo hình thái ban đầu là nơi tổ chức sản xuất, phân phối và trang bị xã hội, trong đó các chức năng hành chính và công nghiệp vượt trội hơn so với chức năng lưu chuyển hàng hóa và phân phối sản phẩm. Trong khi đó, tại Việt Nam, Nghị định số 132/HĐBT ngày 05/05/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã phân đô thị thành 05 loại. Trong đó, đô thị loại I là đô thị rất lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước, dân số từ hơn 1 triệu người trở lên, mật độ dân cư bình quân trên 15.000 người/km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong tổng số lao động.
Đô thị loại II là đô thị lớn có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ, dân số từ 350 nghìn đến 1 triệu người, mật độ dân số bình quân trên 12.000 người/km2, và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên trong tổng số lao động. Đô thị loại III là đô thị trung bình lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay từng lĩnh vực của một vùng lãnh thổ, dân số từ 100.000 11 người, mật độ dân số bình quân trên 10.000 người/km2 (vùng núi có thể thấp hơn), tỉ lệ lao động phi nông nghiệp 80% trong tổng số lao động. Đô thị loại IV là đô thị trung bình nhỏ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh với dân số từ 30.000 người (vùng núi có thể thấp hơn), mật độ dân cư trung bình trên 8.000 người/km2 (vùng núi có thể thấp hơn), tỉ lệ lao động phi nông nghiệp 70% trong tổng số lao động. Đô thị loại V là những đô thị nhỏ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện hoặc một vùng trong huyện với dân số từ 4.000 người (vùng núi có thể thấp hơn), mật độ dân số bình quân 6.000 người/km2, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp 60% trong tổng số lao động của toàn đô thị (mức quy định tối thiểu cho một điểm dân cư đô thị) [94].