phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của đề tài được bố cục thành 3 chương. Một số vấn đề về đô thị hóa và tổng quan về thành phố Cần Thơ trước năm 2004 - Chương 2. Quá trình đô thị hóa thành phố Cần Thơ (2004-2020). Đặc điểm, vai trò, tác động và bài học lịch sử từ quá trình đô thị hóa thành phố Cần Thơ (2004-2020).
6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐÔ THI HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ CẦN THƠ TRƢỚC NĂM 2004 1.1 Một số vấn đề đô thị hóa 1.1 Khái niệm đô thị Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [75, tr. Đô thị là sản phẩm của lịch sử, ghi đậm dấu ấn của từng giai đoạn phát triển kinh tế -văn hóa của xã hội loài người, là kiệt tác hoàn chỉnh của nhân loại. Đô thị là điểm mạnh trong không gian kinh tế, nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, trao đổi và tiêu thụ sản phẩm.
Đồng thời đô thị cũng là không gian xã hội với những điều kiện thuận lợi và đa dạng của đời sống sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Trình độ văn minh đô thị, chất lượng đô thị cũng có sự khác nhau theo không gian và thời gian. Đô thị ngày nay có nhiều điểm khác biệt so với đô thị thời xưa, sự khác biệt này được thể hiện qua sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, quy mô dân số cũng như tỉ lệ dân cư đô thị [44, tr. “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp” [75,tr.
“Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị” [75, tr. “Đô thị là sự tập trung của nhiều người ở gần nhau với mục đích sinh sống, sinh hoạt văn hóa, sản xuất và các mục đích có tính chất xã hội” [75,tr. Khái niệm về đô thị khá đa dạng và chỉ có tính tương đối do có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư. Mỗi quốc gia đều có quy định riêng cho phù hợp với yêu cầu và trình độ quản lý của mình.
Tuy nhiên, có hai tiêu chuẩn cơ bản được hầu hết các quốc gia sử dụng gồm: Tiêu chuẩn về quy mô và mật độ dân số: quy mô trên 2.000 người sống tập trung, mật độ trên 3.000 người/km2. Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của một đô thị được xác định trên cơ sở dân số nội thị và diện tích xây dựng trong giới hạn nội thị của đô thị. Tiêu chuẩn về cơ cấu lao động: phải có trên 60% lao động phi nông nghiệp (lao động phi nông nghiệp bao gồm: lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; lao động xây dựng cơ bản; lao động giao thông vận tải, bưu điện, tín dụng, ngân hàng; lao động thương nghiệp, dịch vụ, du lịch; lao động trong các cơ quan hành chính, văn hóa, giáo 7 dục, y tế, phục vụ nghiên cứu khoa học kỹ thuật; các lao động khác không phải sản xuất nông nghiệp) [75, tr.2 Phân loại đô thị Để phân loại đô thị các cơ quan quản lý nhà nước dựa vào các tiêu chí được xây dựng ở mỗi giai đoạn. Theo đó việc phân chia các đô thị dựa vào tiêu chuẩn quy định năm 1990 và năm 2009 của Chính phủ.
Theo quy định số 132/HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định đô thị là điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau đây: 1. Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 60% trong tổng số lao động, là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển.
Có cơ sở hạ tầng kĩ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị. Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng. Trước đây, việc phân loại đô thị được thực hiện theo Nghị định số 72/2001/NĐ- CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ. Tiếp đó, các đô thị tại Việt Nam được phân loại dựa theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009.
Và gần đây nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đô thị. Theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đô thị tại Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai được phân loại theo tiêu chí loại đô thị tương ứng. Do đó, các đô thị Việt Nam được chia thành 6 loại, dùng số La Mã để phân ra các đô thị đặc biệt, loại I và loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận. Thay vì 6 tiêu chuẩn phân loại đô thị cũ được quy định tại Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ, điểm mới trong Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội lần này chỉ đưa ra 5 tiêu chí cơ bản để đánh giá phân loại đô thị gồm: Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội; Quy mô dân số; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị.
Cụ thể là: 1. Đô thị đặc biệt: vị trí, chức năng, vai trò là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh 8 tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 3.000 người trở lên. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 12.000 người/km2 trở lên.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên. Đô thị loại I: vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng hoặc cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước; Đô thị là thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 1.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 500.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 500.000 người trở lên. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 2.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 10.000 người/km2 trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 85% trở lên.
Đô thị loại II: vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng, cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng liên tỉnh; Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 200.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 100.000 người trở lên. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.800 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 8.000 người/km2 trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 80% trở lên. Đô thị loại III: vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vùng liên tỉnh; Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 100.000 người trở lên; khu vực nội thành, nội thị đạt từ 50.000 người trở lên.
Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.400 người/km2 trở lên; khu vực nội thành, nội thị tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 7.000 người/km2 trở lên. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 60% trở lên; khu vực nội thành, nội thị đạt từ 75% trở lên. Đô thị loại IV: Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh, cấp huyện về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp huyện, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện hoặc vùng liên huyện; Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 50.000 người trở lên; khu vực nội thị (nếu có) đạt từ 20.000 người trở lên. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.200 người/km2 trở lên; 9 khu vực nội thị (nếu có) tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 6.000 người/km2 trở lên.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên; khu vực nội thị (nếu có) đạt từ 70% trở lên.