CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề học thuật 1. Khái niệm đô thị và đô thị hóa 1. Khái niệm đô thị Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “đô thị” (urban area), trong ngôn ngữ phương Tây, từ “đô thị” có nguồn gốc từ thuật ngữ “Urbanus” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “cư dân thành phố”, city dweller.
Cho đến nay, các thuật ngữ “urban” (đô thị), “city” (thành phố), “town” (thị trấn) được dùng để chỉ các khu định cư hạt nhân đa chức năng, được thiết lập và sử dụng đất để cư trú hoặc sản xuất kinh doanh (Phạm Thị Xuân Thọ, 2008, tr. Theo tác giả Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt (1988) định nghĩa đô thị là nơi “dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp” (Hoàng Phê, 1998, tr. Theo tác giả Cao Xuân Phổ, “Trong tiếng Việt, có nhiều từ dùng để chỉ khái niệm đô thị như: đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã,… Các từ này đều có hai thành tố: đô, thành, trấn, xã, hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ. Thời trước chức năng hành chính lấn át chức năng kinh tế; bộ phận đảm nhận cai quản đô thị do Nhà nước bổ nhiệm.
Đô thị Việt Nam khác với Đô thị phương Tây là ở chỗ đó. Đô thị phương Tây ít có tính chính trị hơn và thiên về chức năng kinh tế” (Cao Xuân Phổ, 1999, tr. Theo Bách khoa toàn thư Hoa Kỳ (The American Encylopaedia), “thành phố (city) là một tập hợp dân cư có quy mô đáng kể, ở đó điều kiện sống được xem là theo kiểu đô thị, trái ngược với đời sống nông thôn và miền thôn dã… Theo nghĩa này, thành phố là một hiện tượng chung của xã hội văn minh” (Bách khoa toàn thư Hoa Kỳ, 2000, tr. Theo Beaujeu - Garnier “Đô thị là điểm tập trung dân cư, đồng thời là không gian đặc quyền để định vị một số chức năng cho thị dân và nông dân.
Đô thị là trung tâm tái sản xuất tư bản, vừa tập trung lớn tư bản, vừa tiêu thụ mạnh tư bản, do đó, đóng vai trò rất đặc biệt so với nông thôn và cả với Nhà nước” (dẫn theo Trần Ngọc 11 Khánh, 2012, tr.Kayer cho rằng “Quan hệ giữa các cư dân được cấu thành xung quanh một trung tâm có quyền tự trị và có chức năng hội nhập vào tổng thể nền kinh tế (dẫn theo Trần Ngọc Khánh, 2012, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: đô thị là nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thị trấn. Như vậy, có thể hiểu “đô thị” là nơi tập trung dân cư. Ở đây chủ yếu là sản xuất phi nông nghiệp, mật độ dân số đông đúc với quy mô lớn.
Để xác định thế nào là đô thị cũng khác nhau đối với đặc điểm của mỗi quốc gia; mỗi loại đô thị lại có vai trò, cơ cấu, trình độ phát triển và quy mô, tiêu chí, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng để được công nhận loại đô thị. Ngoài ra còn có khái niệm thị tứ: “Thị tứ chưa phải là điểm dân cư đô thị, nhưng tại đây lại tập trung nhiều loại công trình phục vụ công cộng về kinh tế, văn hóa, xã hội mang tính đô thị phục vụ cho người dân nông thôn. Nó là bộ mặt chính của làng xã, là điểm dân cư có màu sắc cả đô thị lẫn nông thôn, nhưng tính chất nông thôn vẫn là chính. Ở đây có cả những dãy nhà tập trung những người lao động phi nông nghiệp, bán nông nghiệp và cả nông nghiệp ở nông thôn.
Đây là một hình thức đô thị hóa tại chỗ rất thích hợp với Việt Nam, nó sẽ là mầm mống của các điểm dân cư tương lai theo hướng đô thị hóa nông thôn” (Nguyễn Thế Bá, 1997, tr. Khái niệm đô thị hóa Cho đến nay, các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành chuyên biệt đã nghiên cứu đô thị hóa và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những đánh giá về quy mô, tầm quan trọng cũng như đưa ra các dự báo tương lai cho quá trình này. Đô thị hóa được hiểu theo nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, tùy theo các mục đích nghiên cứu và góc độ tiếp cận. Thời kỳ văn minh công nghiệp, khái niệm đô hóa của các học giả phương Tây đã hình thành.
Theo Eldrid định nghĩa đô thị hóa là một quá trình tập trung dân cư, được thể hiện ở một số tính chất như: tập trung, tăng cường, phân hóa các hoạt động trong đô thị và nâng cao tỷ lệ dân thành thị; hình thành các hình thức và cấu trúc không gian mới, nhất là phát triển các thành phố lớn và cực lớn; phổ biến rộng rãi lối 12 sống thành thị (hay lối sống dịch vụ, nhu cầu văn hóa cao, dễ thích nghi…) trong khu vực nông thôn (Nguyễn Duy Thắng, 2003, tr. Robert Owen với những cố gắng giải quyết các vấn đề xã hội trong tổ chức cuộc sống đô thị, Wiliam Moris ý nghĩ xây dựng một mô hình đô thị mới trong đó quan tâm đặc biệt tới cuộc sống của trẻ em và người lao động; mô hình thành phố công nghiệp của Tony Garnier đã khẳng định quan điểm tách biệt các khu công nghiệp khỏi khu dân cư, thể hiện quan điểm tiến bộ về sự quan tâm tới chất lượng môi trường, không gian ở của người lao động. Ở một khía cạnh khác, lý luận thành phố vườn của Hebernege Howard đã tạo ra một cách nhìn mới về môi trường sống đô thị, trong đó cần phải có sự cân bằng của yếu tố nông thôn, vốn đang bị mất dần trong quá trình đô thị hóa. Với lý luận về thành phố tuyến, Soria Mata cũng đề cập đến sự cần thiết phải quan tâm tới mối quan hệ của thành phố với sự phát triển của giao thông hiện đại… (Đỗ Thị Ngọc Lan, 1997, tr.
Với Karl Marx, đô thị hoá như một quá trình biến đổi về chất, thay đổi phương thức sản xuất của con người trong xã hội văn minh. Trong xã hội tiền công nghiệp sự tách biệt giữa thành thị và nông thôn là biểu hiện của sự phân chia công việc. Thành thị là nơi của lao động trí tuệ đồng thời nó là sự tập trung, trong khi nông thôn là môi trường của lao động chân tay, của sự cách ly, phân tán. Vì thế đô thị hóa được xác định theo: Mật độ xây dựng tập trung, khu vực định cư của cư dân chủ yếu làm việc trong khu vực phi nông nghiệp có hạ tầng xã hội, kĩ thuật tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh (Bassand, 2000).
Các thời kỳ sau khái niệm đô thị hóa được nghiên cứu nhiều hơn, theo Pivovarov (1972): Đô thị hóa là một quá trình kinh tế-xã hội nhiều mặt gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật (Lê Hồng Kế, 2010, tr. John Macionis (1980) cho rằng: “Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể (transform) nhiều kiểu mẫu (patterns) của đời sống xã hội. Đó là sự phổ biến và lan truyền những khuôn mẫu hành vi, ứng xử, vốn đặc trưng cho người dân đô thị, sự lan truyền lối sống đô thị hay các quan hệ văn hóa đô thị tới các vùng nông thôn” (dẫn theo Đỗ Thị Ngọc Lan, 1997, tr. Đĩnh nghĩa về đô thị hóa ở Việt Nam: 13 Trong cuốn Đô thị Việt Nam-tập 1, Giáo sư Đàm Trung Phường định nghĩa: có thể nói đô thị hóa là một quá trình diễn biến về kinh tế, xã hội, văn hóa, không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự (Đàm Trung Phường, 1995).
Trịnh Duy Luận nhận định quá trình đô thị hóa “được xem như một cái phông (bối cảnh), trên đó diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc trong đời sống của xã hội hiện đại, của các cộng đồng và của mỗi cá nhân” (Trịnh Duy Luân, 1996, tr. Nguyễn Thế Bá (1998) cho rằng, quá trình đô thị hóa cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị và diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế xã hội. Cũng có quan điểm cho rằng đô thị hóa còn được tính theo phần trăm giữa dân số đô thị so với tổng diện tích của mộ khu vực, tổng số dân như: Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” (Hoàng Phê, 1998, tr. Còn có các nhà nghiên cứu xét khía cạnh chuyển đổi lối sống, chất lượng cuộc sống, văn hóa chính là đặc trưng của đô thị hóa, các quan điểm này cho rằng đô thị hóa chính là “quá trình phát sinh và phát triển các đô thị, ở đó hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp, thương mại, dịch vụ, và là quá trình chuyển đổi lối sống từ nông thôn sang thành thị” (Nguyễn Văn Lê, 1997, tr.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị, nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” (Từ Điển Tiếng Việt, 1988, tr. Còn theo Từ điển xã hội học xuất bản năm 2002, đô thị hóa là minh chứng cho sự tăng trưởng về dân số, về dân cư, sự mở rộng về văn hóa và lối sống thành thị. 14 Tóm lại, có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về đô thị hóa, nhưng nhìn một cách tổng quan nhất, có thể xem đô thị hóa là quá trình chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị, thể hiện qua việc tăng diện tích, tăng dân số, tăng quy mô của một đô thị, chuyển biến trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, sự thay đổi lối sống của người dân.