chương 1 - Một số vấn đề chung, người viết trình bày những vấn đề chung, chủ yếu là những lí thuyết làm cơ sở để triển khai nội dung đề tài đúng hướng và đạt hiệu quả. Đó là những lí luận về thể loại truyền kỳ (khái niệm, nguồn gốc và đặc trưng thể loại); những lí thuyết về các phương thức sáng tác trong văn học, cụ thể là hai phương thức tự sự và trữ tình; những kiến thức có liên quan đến Truyền kỳ mạn lục như tác giả, nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, sự liên hệ giữa Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ với Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu. Tất cả là những tiền đề rất quan trọng để người viết triển khai vấn đề một cách khoa học. Ở chương 2 - Phương thức tự sự và trữ tình trong Truyền kỳ mạn lục, những dạng thức kết hợp và tác dụng nghệ thuật, người viết sẽ trình bày cụ thể, đi sâu những vấn đề chính của đề tài, các biểu hiện của hai phương thức tự sự và trữ tình, ý nghĩa riêng lẽ cũng như hiệu quả nghệ thuật của việc kết hợp của cả hai phương thức ấy trong tác phẩm.
Người viết sẽ thực hiện công việc phân tích, thống kê, phân loại, tổng hợp, so sánh để rút ra kết luận một trong những điểm đặc sắc về phương diện nghệ thuật của tác phẩm chính là sự kết hợp độc đáo giữa hai phương thức tự sự và trữ tình. Và sự kết hợp này đã góp phần thể hiện sâu sắc nội dung, tư tưởng của toàn tác phẩm, đồng thời cũng cho thấy vai trò quan trọng trong việc thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của Truyền kỳ mạn lục. Ở chương 3 - Đóng góp về nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục trong nền văn học Việt Nam, để hình thành cái nhìn toàn diện về tác phẩm, người viết đã trình bày sự liên quan, ảnh hưởng giữa Truyền kỳ mạn lục với những tác phẩm xuất hiện trước và sau nó, chủ yếu là các tác phẩm là truyện truyền kỳ hoặc những tác 15 phẩm có liên quan gần gũi đến thể loại truyền kỳ trong nền văn học Việt Nam. Từ đó, người viết có thể khẳng định thành công vượt bậc về cả nội dung lẫn nghệ thuật của tác phẩm vang bóng một thời này trong nền văn học trung đại của Việt Nam.
Kết luận, người viết tổng hợp và khẳng định lại một lần nữa những kết quả đạt được của đề tài. Đồng thời cũng trình bày lập trường, suy nghĩ và đánh giá riêng của bản thân về tác phẩm “thiên cổ kỳ bút” trong lịch sử văn học nước nhà. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Thể loại truyền kỳ 1.
Khái niệm “truyền kỳ” Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “truyền kỳ” có nghĩa là “thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc thịnh hành ở đời Đường. Tên gọi này cuối đời Đường mới có. Kỳ có nghĩa là không có thực, nhấn mạnh tính chất hư cấu” [20, tr. Trong Từ điển Văn học (bộ mới) thì khẳng định rằng: Truyền kỳ là “một hình thức văn xuôi tự sự Trung Quốc, bắt nguồn từ truyện kể dân gian, sau các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng các môtip kỳ quái, hoang đường lồng vào trong cốt truyện có ý nghĩa trần thế” [32, tr.
Và theo tác giả Đoàn Lê Giang, chữ “kỳ” trong “truyền kỳ” có nguồn gốc từ tác phẩm “Truyền kỳ” của Bùi Hình, cũng có nghĩa là kỳ lạ, hoang đường. Trong tác phẩm Đường Tống truyền kỳ, Lỗ Tấn cho rằng “kỳ” trong khái niệm không phải hiểu theo nghĩa là sự kỳ ảo, kỳ dị mà phải hiểu như một quan niệm văn học, một phương pháp sáng tác, cách hiểu này bắt buộc các tác giả phải có sự coi trọng yếu tố “lạ” trong khi sáng tác. Nhìn chung, khái niệm “truyền kỳ” được hiểu khá thống nhất. Đó là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại, dùng những yếu tố hoang đường, kỳ lạ để phác hoạ và phản ánh đời sống hiện thực, thể hiện quan điểm sống của bản thân tác giả trước cuộc đời đầy dâu bể.
Nguồn gốc thể loại truyền kỳ “Truyền kỳ” cũng giống như một số thể loại khác như “tiểu thuyết” hoặc “thơ Đường luật” đều có nguồn gốc rất lâu từ Trung Quốc. “Truyền kỳ” được xem là thể loại truyện ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc và thể loại này thịnh hành nhất là ở thời Đường (từ năm 618 đến năm 774) [86, tr. Vào đời Nguỵ Tấn (từ thế kỷ thú III đến thế kỷ thứ IV), chưa có khái niệm “truyền kỳ” mà chỉ có khái niệm “tiểu thuyết”, nó tồn tại dưới dạng chí quái (chuyện ghi chép những điều quái dị hoặc những chuyện dã sử). Thuật ngữ 17 “tiểu thuyết” chính là mầm mống của “truyền kỳ”.
Vào đời Đường, người ta vẫn còn nghĩ “tiểu thuyết” là một khái niệm đơn giản chỉ một dạng văn viết về những chuyện lãng mạn, xa rời cuộc sống thực tế, không thể tin. Có người đã gạt tiểu thuyết ra khỏi hệ thống văn học chính thống quốc gia. Do sự phân tầng trong giai cấp xã hội, mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, nhu cầu phản ánh hiện thực cuộc sống ngày càng cao, tiểu thuyết không ngừng mở rộng nội dung và hoàn thiện về hình thức nghệ thuật, đạt đến độ chín trong các tác phẩm. Theo thị hiếu xã hội, tác giả phải lựa chọn một kết cấu lạ để thể hiện tư tưởng, quan điểm muốn gửi gắm.
Từ đó, tiểu thuyết dần dần biến tướng và được thay thế bởi khái niệm “truyền kỳ”. Với sự ra đời của truyện Cổ kính kí của Vương Độ (?-?), Bổ Giang tổng Bạch viên truyện (không rõ tác giả), Du tiên quật (Trương Thốc), truyền kỳ thật sự đã trở thành thể loại văn học chính thống tồn tại độc lập và quan trọng trong nền văn học Trung Quốc. Một người thời Minh là Hồ Ứng Luân đã từng khẳng định: “Những chuyện biến hoá kỳ lạ rất thịnh vào thời Lục triều, có điều phần lớn là ghi chép lại những điều bịa đặt chứ đâu phải truyện biến hoá, đến người đời Đường, mới có sự cấu tứ ly kỳ, mượn tiểu thuyết để gửi gắm ngọn bút” [52, tr. Truyền kỳ không chỉ là những truyện thuật lại những chuyện được truyền trong dân gian mà nó còn là phương tiện ngôn ngữ để tác giả thể hiện những suy nghĩ, những cảm xúc, những trăn trở trước cuộc đời.
Thể loại truyền kỳ tiếp tục phát triển ở đời Tống, Nguyên (1279 - 1368). Cuối đời Nguyên, đầu đời Minh (thế kỉ XIV), có sự xuất hiện Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (1341 - 1427), đây là tác phẩm truyền kỳ nổi tiếng, tiêu biểu cho thể loại truyền kỳ của Trung Quốc và có ảnh hưởng lớn đến truyền kỳ các nước trong khu vực, tiêu biểu như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… Sang đời nhà Thanh (1644 - 1911), Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh (1640 - 1715) ra đời đã làm rạng danh cho thể loại truyền kỳ của nền văn học Trung Quốc. Trong nền văn học Việt Nam, những mầm mống của “truyền kỳ” đã có mặt từ rất sớm ở Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo. Đến 18 Truyền kỳ mạn lục thì khái niệm “truyền kỳ” mới chính thức xuất hiện và thật sự phát triển đến đỉnh cao về nội dung lẫn hình thức.
Nhìn tổng quát, ta thấy truyền kỳ là một thể loại văn xuôi xuất hiện khá sớm trong lịch sử văn học Trung Quốc. Lúc đầu truyền kỳ chưa phải là một thể loại độc lập, nó chỉ là loại chí quái xuất hiện thời Lục triều, về sau loại này phát triển độc lập thành thể loại truyền kỳ và du nhập vào nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bằng ý thức tự hào và giữ gìn tinh hoa của dân tộc, người Việt Nam đã sáng tác truyện truyền kỳ theo cách riêng của mình. Những tác phẩm luôn có sự kết hợp giữa sự tiếp thu và sáng tạo, gắn liền với các nền văn hoá dân tộc (chủ yếu là văn hoá dân gian và văn xuôi lịch sử).
Truyền kỳ của văn học Việt Nam có đóng góp lớn cho thể loại truyền kỳ trong nền văn học toàn khu vực đồng văn thời trung đại. Đặc trưng thể loại Đặc trưng của mỗi thể loại trong sáng tác văn học là một trong những vấn đề quan trọng trong lý luận văn học. Người đọc có thể tiếp cận tác phẩm với nhiều góc nhìn khác nhau. Xét về phương diện thể loại, truyền kỳ có những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật sau: * Về nội dung: Truyền kỳ là một thể loại văn học đậm giá trị phản ánh hiện thực.
Yếu tố kỳ lạ ở đây cần phải hiểu chính là những việc thực, người thực trong cuộc đời nhưng được phản ánh bằng lối tư duy, sáng tạo mới lạ với kết cấu ly kỳ và những chi tiết hoang đường. Tác phẩm truyền kỳ chứa đựng nội dung phản ánh hiện thực xã hội rất đa dạng, phong phú. Có dạng chỉ đơn thuần là miêu tả cuộc đời biến ảo như mơ, như mộng; có loại chuyên ca ngợi tình yêu lứa đôi nam nữ; có loại thì chuyên ca ngợi những hào sĩ hiệp khách giang hồ; cũng có loại lên án, phê phán thói hư tật xấu của tầng lớp thanh thiếu niên, thói ham tiền hám lợi của các giai tầng thống trị. 19 Có thể thấy nơi đây một xã hội đầy rẫy những bất công, nhiễu nhương với những thế lực uy quyền cậy thế hà hiếp người nghèo khổ.
Vua quan thì kết bè kết cánh, bóc lột nhân dân, người thấp cổ bé họng thì lại nhút nhát, chịu đựng. Trong TKML, hiện lên khá rõ sự tàn nhẫn, vô nhân của bậc tối cao trong xã hội đương thời. Đó là cảnh chính sự thối nát cuối triều nhà Trần và triều nhà Hồ. Tác giả mượn chuyện vua nước người ngụ ý nhắc nhở vua nước mình qua lời của Hồ Tông Thốc đối đáp với Hạng Vương trong Câu chuyện ở đền Hạng Vương: “Phàm xoay cái thế thiên hạ, ở trí chứ không ở sức; thu tấm lòng thiên hạ, ở nhân chứ không phải bạo.
Nhà vua thì chỉ lấy quát thét làm oai, lấy cương cường làm đức. Chém Tống nghĩa là một tướng mạnh, vô quân đến đâu! Giết Tử Anh là người đã hàng, bất võ quá lắm! Hàn sinh vô tội mà bị luộc, hình pháp thái thường; A Phòng vô cố mà bị thiêu, hung uy quá tệ!”.