Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái lược về ngữ dụng học 1. Ngữ dụng học Ngữ dụng học là một chuyên ngành khoa học còn non trẻ so với các chuyên ngành khác của Ngôn ngữ học. Ngữ dụng học ra đời khoảng những năm giữa của thế kỉ trước và thực sự được giới ngôn ngữ học quan tâm vào những năm 70 - 80 của thế kỉ XX.
Đây là một chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học và tín hiệu học nghiên cứu về sự đóng góp của ngữ cảnh tới nghĩa. Ngữ dụng học bao hàm cả lý thuyết hành vi ngôn từ, hàm ngôn hội thoại, tương tác lời nói và cả những cách tiếp cận khác tới hành vi ngôn ngữ trong triết học, xã hội học và nhân học. Khác với Ngữ nghĩa học nghiên cứu về nghĩa qui ước hoặc "mã hóa" trong một ngôn ngữ, Ngữ dụng học nghiên cứu về cách làm sao nghĩa lại được chuyển tải qua không chỉ cấu trúc và hiểu biết ngôn ngữ (ngữ pháp, từ vựng,…) của người nói và người nghe, mà còn qua cả ngữ cảnh của phát ngôn, cùng với những hiểu biết có từ trước đó liên quan tới chủ đề, ý đồ được suy ra của người nói, và các yếu tố khác nữa. Theo cách nhìn này, Ngữ dụng học giải thích vì sao người sử dụng ngôn ngữ lại có thể vượt qua những rào cản rõ ràng về sự mơ hồ nghĩa (hay lưỡng nghĩa), vì nghĩa phụ thuộc vào cách thức, vị trí, thời gian,… của một phát ngôn.
Thuật ngữ Ngữ dụng học được hiểu là một chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học và tín hiệu học nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với người sử dụng và gắn liền với ngữ cảnh. Khác với các quan niệm về nghĩa được các nhà ngôn ngữ học truyền thống sử dụng chỉ bó hẹp trong phạm vi từ, cụm từ, câu một cách tách rời người dùng với ngữ cảnh nên đã không thấy hết nghĩa tình thái, nghĩa xuyên ngôn, nghĩa ngôn trung mà những nghĩa này đều gắn bó 8 chặt chẽ với người dùng. Thuật ngữ người dùng ở đây có thể là người nói (hay người phát), người nghe (hay người nhận). Giữa họ có mối quan hệ mật thiết và thường xuyên tác động qua lại.
Họ có vốn sống, vốn kinh nghiệm, nhận thức, hành động, cách ứng xử riêng gắn với xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về ngữ dụng học, ở đây chúng tôi thống nhất theo định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu: “Dụng học là lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các sản phẩm của ngôn ngữ với ngữ cảnh, đặc biệt với nhân vật, với hoàn cảnh giao tiếp và với các hoạt động giao tiếp thực sự của ngôn ngữ trong xã hội. Phân biệt ngữ dụng học với cú pháp học và ngữ nghĩa học Trong phân tích ngôn ngữ, người ta thường đối lập ngữ dụng học với cú pháp học và ngữ nghĩa học. Cú pháp học nghiên cứu những mối quan hệ giữa các hình thức ngôn ngữ, các hình thức ngôn ngữ được sắp xếp thành chuỗi như thế nào, và những chuỗi như thế nào được coi là chuẩn theo quy tắc.
Ngữ nghĩa học nghiên cứu những mối quan hệ giữa các hình thức ngôn ngữ và những thực thể trong thế giới, tức là nghiên cứu xem các từ liên hệ với các sự vật như thế nào. Sự phân tích ngữ nghĩa cũng cố gắng chứng minh những quan hệ giữa các diễn ngôn và các trạng thái sự việc trong thế giới là đúng (chính xác) hay không đúng mà không chú ý đến người đã tạo ra diễn ngôn đó. Ngữ dụng học nghiên cứu những mối quan hệ giữa các hình thức ngôn ngữ và những người sử dụng các hình thức ấy. Trong cuốn “Dụng học Việt ngữ” Nguyễn Thiện Giáp đã dẫn quan điểm của George Yule phân biệt ngữ dụng học với cú pháp học về những mặt sau đây: - Cú pháp học nghiên cứu các câu với tư cách là những đơn vị của một 9 hệ thống ngôn ngữ trừu tượng còn ngữ dụng học nghiên cứu các phát ngôn với tư cách là những ví dụ của hệ thống.
- Cú pháp học dừng lại ở bậc câu, ngữ dụng học xem xét các phát ngôn trong một văn bản, một diễn ngôn; tức là xem xét những cấu trúc trên câu, xem xét quan hệ giữa các phát ngôn trong một bài văn, đoạn văn. - Cú pháp coi các câu là những sản phẩm ổn định, ngữ dụng học đối xử với các phát ngôn như những quá trình năng động. Giao tiếp ngôn ngữ là quá trình tương tác lẫn nhau giữa người nói và người nghe, giữa lời nói này với lời nói kia. Các phát ngôn lệ thuộc vào niềm tin và ý định của người nói, vào sự chờ đợi, sự suy luận của người nghe, vào vốn hiểu biết chung giữa người nói và người nghe.
- Cú pháp học phân tích các câu một cách biệt lập, ngữ dụng học phân tích các phát ngôn trong sự gắn bó chặt chẽ với các ngữ cảnh tình huống của chúng. Tùy theo ngữ cảnh mà cùng một phát ngôn có thể được lĩnh hội một cách khác nhau. Ngữ dụng học phân biệt với ngữ nghĩa học về các mặt sau: - Ngữ dụng học nghiên cứu nghĩa với tư cách là cái được thông báo bởi người nói (người viết) và là cái được giải thích bởi người nghe (người đọc). Do đó, nó phải được chú ý phân tích cái mà người ta muốn nói qua phát ngôn của họ hơn là cái mà tự thân ý nghĩa các từ và các cú đoạn trong phát ngôn đó có thể có.
Ngữ dụng học phải nghiên cứu những ý nghĩa trong dự định của con người, những điều mà họ cho là đúng, mục đích hoặc ý định của họ và các kiểu hành động của họ khi nói. Như thế ngữ dụng học nghiên cứu ý nghĩa của người nói. - Nghiên cứu ngữ dụng học đòi hỏi phải giải thích người ta muốn nói gì trong một ngữ cảnh đặc biệt và ngữ cảnh có ảnh hưởng như thế nào với cái được nói. Nó đòi hỏi phải nghiên cứu xem người nói tổ chức cái họ muốn nói 10 như thế nào cho phù hợp với ngữ cảnh: nói với ai, ở đâu, bao giờ, và trong hoàn cảnh nào.
Như thế ngữ dụng học nghiên cứu cái nghĩa ngữ cảnh. - Ngữ dụng học đòi hỏi phải thăm dò người nghe xem họ suy luận như thế nào về cái được nói để có thể giải thích được ý định của người nói. Kiểu nghiên cứu này khảo sát rất nhiều cái không được nói, nhưng lại thừa nhận là một phần của những điều được thông báo. Có thể nói đó là sự nghiên cứu cái nghĩa vô hình.
Ngữ dụng học nghiên cứu hiện tượng cái được thông báo lớn hơn là cái được nói như thế nào. - Khi tìm hiểu những nhân tố quy định cái được nói và cái không được nói, ngữ dụng học đụng chạm đến khái niệm khoảng cách. Người nói quyết định cần phải nói như thế nào là tùy thuộc vào nhận thức người nghe là gần gũi hay xa cách đối với mình. Như thế ngữ dụng học nghiên cứu sự thể hiện của khoảng cách tương đối giữa người nói và người nghe.
Tóm lại: Ngữ dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các sản phẩm của ngôn ngữ gắn liền với ngữ cảnh, tức là cách sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể để đạt được những mục đích cụ thể. Những vấn đề thuộc ngữ dụng học như ngữ cảnh, chiếu vật, chỉ xuất liên quan đến nội dung của đề tài sẽ là những cơ sở lí luận để triển khai luận văn này. Khái niệm Muốn biết một câu nói ra phản ánh sự tình cụ thể nào, đúng hay sai thì phải biết chiếu vật của các thành tố của nó. Muốn xác định chiếu vật của các thành tố cũng như chiếu vật của câu phải đặt câu vào tình huống khi nó phát ra.
Có như vậy thì chúng ta mới hiểu đúng nghĩa của các phát ngôn và khi đó hoạt động giao tiếp mới đạt hiệu quả cao. Chẳng hạn, đột nhiên nghe được câu: “Cậu hỏi cha mẹ chúng nó, chứ hỏi chúng nó thì chúng nó biết gì?” [2, tr.188], ta sẽ không thể có câu trả lời 11 chính xác cho những câu hỏi sau xoay quanh phát ngôn đó: - Cậu, chúng nó, cha mẹ chúng nó là những ai? - Người nói ra câu đó là ai? Có quan hệ như thế nào với “cậu”? - “Hỏi cha mẹ chúng nó” là hỏi về vấn đề gì? - Câu nói này được nói ra ở đâu, vào lúc nào? Đặt ra những câu hỏi như vậy để tìm hiểu chính xác, thấu đáo một phát ngôn chính là chúng ta đang làm công việc tái lập ngữ cảnh của phát ngôn ấy. Trả lời được các câu hỏi trên cũng có nghĩa là chúng ta đã giải mã thành công. Điều đó chứng tỏ, chúng ta sẽ không hiểu được nội dung của một câu nói nếu chỉ dựa vào các yếu tố ngôn ngữ.
Muốn hiểu được thì chúng ta cần phải biết những yếu tố giúp cho câu nói trở nên cụ thể hơn. Những yếu tố đó gọi là ngữ cảnh. Vậy ngữ cảnh là gì? Về khái niệm ngữ cảnh, có rất nhiều quan điểm khác nhau. Trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt”, Nguyễn Thiện Giáp (2000) phân biệt ngữ cảnh với hoàn cảnh nói năng.
Ông cho rằng, “ngữ cảnh là những từ bao quanh, hay đi kèm theo một từ, tạo cho nó tính xác định về nghĩa”. Còn hoàn cảnh nói năng là “cái tình huống, cái bối cảnh phi ngôn ngữ mà từ xuất hiện: ai nói, nói bao giờ, nói ở đâu, nói với ai, vì sao nói”. Trong giáo trình Cơ sở ngữ dụng học - Tập I của Đỗ Hữu Châu (2003), ngữ cảnh được xếp vào một trong các nhân tố giao tiếp, bao gồm: đối ngôn (những người tham gia giao tiếp), hiện thực ngoài ngôn ngữ (hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường, hiện thực được nói đến và hệ quy chiếu) nên đây là một yếu tố ngôn ngữ nhạy cảm ngữ cảnh đến mức tối đa. Nói cách khác, những hiểu biết về ngữ cảnh sẽ là thước đo cho sự xác định chính xác nghĩa chiếu vật của các phương thức chiếu vật.
Theo Đỗ Hữu Châu, “ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn”.15] Tóm lại: Ngữ cảnh là một loại môi trường phi ngôn ngữ trong đó ngôn 12 ngữ được sử dụng, là những nhân tố của hoạt động giao tiếp, trừ diễn ngôn. Các bộ phận của ngữ cảnh + Đối ngôn (nhân vật giao tiếp/ người tham gia giao tiếp): không có đối ngôn không có giao tiếp. Giao tiếp ít ra phải có hai đối ngôn.