Mở đầu i Các bệnh do côn trùng truyền lưu hành rộng rãi ở hầu khắp các châu lục, đặc biệt tại các vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Có bệnh đã từng là thảm hoạ với con người như dịch hạch, sốt vàng, có bệnh đang trở thành vấn đề kinh tế, xã hội nóng bỏng, có tính toàn cầu như sốt rét (Hội nghị cấp Bộ trưởng Y tế toàn cầu, Amsterdam, 1992) hoặc mang tính khu vực như sốt xuất huyết Dengue, Viêm não, giun chi, v. Việt Nam nằm trong vùng lưu hành nang của nhiều bệnh nguy hiểm do côn trùng truyền như sốt rét, sốt xuất huyết Dengue, viêm não Nhat Bản B (JEB), giun chỉ. Do vậy những thiệt hại to lớn về người và của, những ảnh hưởng nghiêm trọng về kinh tế, xã hội do các bệnh kể trên gây ra ở nước ta là khó tính toán hết.
Chính vì thế cũng như nhiều nước khác trên thế giới, công tác phòng chống các bệnh do côn trùng truyền kể trên đang trở thành nhu cầu cấp thiết mang tính xã hội của nước ta. Trong chiến lược phòng chống các bệnh do côn trùng truyền mà phần lớn là do muỗi truyền, vấn đề phòng chống trung gian truyền bệnh trở thành một khâu hết sức quan trọng và thậm chí trong một số bệnh như Dengue xuất huyết, đó là biện pháp chủ yếu. Để phòng chống vector một cách hiệu quả, kinh tế, những nghiên cứu về muỗi và các loài côn trùng y học khác nhau không ngừng được đẩy mạnh trong nhiều thập kỷ qua nhằm có được sự hiểu biết đầy đủ về sinh học, sinh thái học, vai trò dịch té. của chúng.
Trong các nghiên cứu kể trên, những công trình có liên quan tới cấu trúc tuổi quần thể, tập tính hút máu và trú đậu tiêu máu. góp phần rất quan trọng vào đánh giá tiềm năng dịch té học của một quần thể cũng như góp phần xác định hiệu qua của các biện pháp phòng trừ (Beklemishev et al. Polovodova-Detinova (1941, 1945, 1947, 1949, 1962) đã đề xuất và hoàn chỉnh phương pháp xác định tuổi sinh lý muỗi bằng phương pháp mé tính nút trên ống trứng. Phương pháp này đã được áp dụng phổ biến trong những năm 40-60 của thế kỷ XX va góp phần không nhỏ vào việc đánh giá vai trò dịch tễ của một số loài muỗi truyền sốt rét.
Tuy nhiên ngay cả phương pháp khá phể biến như trên cũng dần bộc lộ nhược điểm vì nhũng công trình gần đây đã khẳng định nút không phải là sản phẩm hình thành từ bao trứng sau một lần muỗi đẻ (Hoc T., 1974, 1975, 1981; Lange và Hoc T. Mặc dù những phương pháp xác định tuổi sinh lý của các loài côn trùng, nhất là những loài có ý nghĩa quan trọng trong y học được công bố khá nhiều, song chưa có phương pháp nào được công nhận là hoàn chỉnh. Trong khi đó, đòi hỏi của thực tiễn phòng chống trung gian truyền bệnh ngày càng cấp bách. Sự chưa hoàn chỉnh Lá sa của các phương pháp xác định tuổi sinh lý cũng như sự chưa tiện lợi khi áp dụng ở thực địa đã là những nguyên nhân làm cho công tác xác định tuổi quần thể vector ở Việt Nam không mang tính thông dụng.
Điều đó gây khó khăn không nhỏ trong đánh giá tiềm năng dịch tễ của một quần thể cũng như đánh giá hiệu quả của biện pháp phòng chống vector. Nhằm góp phần vào phục vụ công tác phòng chống các trung gian truyền bệnh ở Việt Nam thông qua việc sử dụng phương pháp xác định tuổi sinh lý côn trùng, chúng tôi đã nhận thực hiện đề tài: "Nghiên cứu phương pháp xác định tuổi sinh lý của muỗi (Diptera: Culicidae) và ứng dụng trong nghiên cứu sinh thái học, dịch tễ và phòng chống một số quần thể vector quan trọng ở Việt Nam ". Nội dung cơ bản của luận án gồm 2 phần: - Xây dựng phương pháp xác định tuổi sinh lý muỗi bằng việc mổ - nhuộm buồng trứng nguyên vẹn trong dung dịch đỏ trung tính 1/8000 -Thử nghiệm phương pháp đề xuất tại một số thực địa nhằm đánh giá độ tin cậy của phương pháp dựa trên kết quả nghiên cứu của 4 loài muỗi là trung gian truyền bệnh quan trọng ở Việt Nam: Aedes aegypti Linnaeus, 1762; Culex quinquefasciatus Say, 1823: Anopheles sinensis Wiedemann, 1828; Culex tritaeniorhynchus Giles, 1901. Mục đích của luận án nhằm: - Có được một phương pháp xác định tuổi sinh lý muỗi với độ tin cậy cần thiết, có khả năng ứng dụng thuận lợi ở thực địa.
> - Thăm dò kha năng ứng dung của phương pháp trên trong nghiên cứu sinh thái học, đánh giá tiềm năng dịch té của quần thể và xác định hiệu quả của công tác phòng chống vector. Phan A | Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Mỗi là loài côn trùng hai cánh hút máu (Diptera) có ý nghĩa dịch té rất quan trọng. Rất nhiều bệnh do chúng truyền đang lưu hành phổ biến ở nhiều vùng trên thế giới và gây những tổn thất to lớn về người và của cho nhân loại. Có thể kể tới các bệnh như Sốt rét, Giun chỉ, Dengue, Viêm não Nhật Bản B.
Bệnh sốt rét lưu hành trên hầu khắp các châu lục và gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn cho con người. Mặc dù đã trải qua chương trình tiêu diệt Sốt rét (TDSR) trên phạm vi thế giới, song sốt rét đang có xu thế quay trở lại và phát triển ở mức độ ' trầm trọng (WHO,1991). Theo thông báo của Tổ chức Ytế thế giới (WHO) năm 1991 có khoảng 2 tỷ người sống trong vùng sốt rét lưu hành, tử vong hàng năm do sốt rét lên đến 1-2 triệu người với số mắc trên khoảng 110 triệu. Sốt rét đang trở thành vấn đề.
kinh tế và xã hội trên qui mô thế giới (Thông báo của Hội nghị cấp Bộ trưởng Bộ Y tế toàn cầu họp tại Amsterdam (Hà Lan) 10/1992). Ở Việt Nam trước đây, sốt rét lưu hành trên 74,6% lãnh thổ (Vũ Thị Phan và cộng sự, 1992) với hàng triệu người mắc mỗi năm. Mặc dù việc triển khai chương trình TDSR trước đây cùng như chương trình Phòng chống Sốt rét (PCSR) hiện nay mang lại nhiều kết quả song bệnh sốt rét vẫn còn có xu hướng quay trở lại và phát triển (Hoàng Đình Hồi, 1993). Số người mắc sốt rét của năm 1992 tăng 1,3 lần hơn 1991 và lên tới 1.
Hàng năm chi phi cho PCSR lên tới gần 100 ty đồng. Từ lâu nay ta đã biết muỗi Anopheles là vector truyền các loại ký sinh trùng Plasmodium như: P. gây ra bệnh sốt rét. Theo Bruce - Chwatt (1985) trên thế giới có khoảng 60/400 loài Anopheles có khả năng truyền bệnh trong đó 35/60 loài là các loài vector chủ yếu ở các vùng dia lý khác nhau.
Ở 'Việt Nam đã phát hiện 9 loài Anopheles có khả năng truyền bệnh (Đặng Văn Ngữ, 1973; Vũ Thị Phan và cộng sự, 1980; Nguyễn Đức Mạnh, Trần Đức Hinh, Nguyễn Thọ Viễn, 1991 .), trong đó vector chủ yếu của miền núi là An. dirus (Đặng Văn Ngữ và Nguyễn Duy Sĩ, 1967), của vùng ven biển phía bắc là An.subpictus (Vũ Thị Phan và cộng sự, 1975);cha vùng ven biển phía nam là An. Trong số các loài đóng vai trò truyền bệnh ở vùng đồng bằng, An. sinensis là loài rất được quan tâm.
Đây là loài truyền bệnh sốt rét chủ yếu ở Trung Quốc, Indonesia (Carroll, 1929; Reid, 1953.) và đã được xác định có khả năng truyền bệnh tại Việt Nam (Grasthen, Marneff, 1938; Phạm Huy Tiến, 1973). Ngoài khả năng truyền sốt rét, An.sinensis còn có khả năng truyền các bệnh khác như giun chỉ. Bệnh Dengue và sốt xuất huyết Dengue do 4 typ của virus Dengue (typ I - typ IV) thuộc nhóm Arbovirus gây ra (Doan Xuan Mugu, 1979). Dengue có phân bố rất rộng, bao gồm nhiều nước thuộc châu Á, Phi, Mỹ.
Nhiều tác giả quan niệm Đông Nam A là vùng lưu hành lâu đời của Dengue -Ởatanasen, Akiyama, 1991; M. Dengue hay còn gọi là Dengue cổ điển thường có diễn biến lâm sàng nhẹ song người mắc bệnh bị mệt mỏi và mất sức lao động trong nhiều tuần lễ. Đặc điểm này cùng với việc Dengue lưu hành rộng, số người mắc đông, nên trong các vụ dịch do Dengue tuy tử vong không đáng kể song ảnh hưởng to lớn tới sức lao động. Ví dụ năm 1922 vụ dịch ở Bang Texas có tới 50-60 vạn người mắc; ở Nhật Bản, các vụ dịch Dengue hàng năm số người mắc lên tới hàng triệu, đặc biệt tại các khu vực cảng Oxaca, Kioto.
Vụ dịch sốt xuất huyết Dengue đầu tiên được ghi - nhận ở Philipine năm 1953 (Đoàn Xuân Mượu, 1979). Đặc điểm lâm sàng của bệnh là kèm theo dấu hiệu xuất huyết và choáng, tỷ lệ tử vong trong những năm đầu rất cao từ 20-30% (WHO, 1979; WHO, 1992). Từ sau năm 1953, sốt xuất huyết Dengue ngày càng được phát hiện ở nhiều nơi như Thái Lan (1953), Philipine (1953), Việt Nam (1958) và trở thành một bệnh lưu hành ngày càng rộng rãi tại các nước châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á. Từ châu Á, châu Phi, sốt xuất huyết Dengue lan sang các nước châu Mỹ như Cuba (1981), Ethiopi (1981), Venezuela (1990) (WHO, 1992).
Tại Việt Nam, vu dịch xuất huyết Dengue được ghi nhận lần dau ở Hà nội (Mihov, C.Tuong, 1959) với 68 bệnh nhân. Sau đó các vụ dịch được thông báo ở các tỉnh phía Nam, với tỷ lệ tử vong lớn xảy ra tại 19 tỉnh thành phía Bắc (Vũ Thị Phan và cộng sự, 1973; Vũ Đức Hương, 1984; WPRO,1992). Cũng từ đó sốt xuất huyết Dengue trở thành một bệnh lưu hănh và thường xuyên xảy dịch ở hầu hết các tỉnh thành của nước ta trừ một số vùng núi và hải đảo xa xôi. Do vùng lưu hành rộng, dịch thường xảy ra, số người mắc lớn, tử vong cao, sốt xuất huyết Dengue thật sự trở thành một vấn đề y tế to lớn, đòi hỏi được tập trung giải quyết.
Từ rất lâu nay ta đã biết Ae. aegypti và Ae. albopictus cùng với một số loài Aedes khác tham gia vào việc truyền virus Dengue song đóng vai trò quan trọng nhất vẫn là Ae. Nhiều tác gia cho rằng cùng với sự xâm nhập của Ae.
aegypti vào châu Á cũng như khả năng thích ứng và mở rộng vùng phân bố của chúng vào sâu trong nội địa, sốt xuất huyết ngày càng lan tràn và mở rộng phạm vi lưu hành tại các nước trong vùng. Tại Việt Nam, trong các vụ dịch sốt xuất huyết của năm 1969 đã khẳng định được Ae. aegypti là vector truyền virus Dengue chủ yếu ở Việt Nam (Vũ Thị Phan, Phạm Huy Tiến và cộng sự, 1973). - Cùng với quá trình phát triển giao lưu, đô thị hoá, là quá trình mở rộng vùng phân bố của Ae.
aegypti và kèm theo đó, sốt xuất huyết lan tràn và trở thành lưu hành trên phần lớn lãnh thổ nước ta.