Mở đầu Chương II: Các biện pháp xử lý nền đất yếu. Chương III: Phương án xử lý nền đất yếu bằng vét bùn, cọc tre, kết hợp bệ phản áp do Tư vấn thiết kế Hạ tầng lập. Chương IV: Nghiên cứu đề xuất giải pháp xử lý nền đất yếu bằng tháy đất,cọc cát kết hợp bệ phản áp trong xử lý nền đất yếu khi xây dựng Hạ tầng kỹ thuật khu vực đường Vũ Thê Lang, thành phố Việt trì. Chương V: Kết luận và kiến nghị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO Phan Đức Hoàng Trang 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sĩ kỹ 2015 thuật CHƯƠNG 2- CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU 2. Giới thiệu chung 2.Khái niệm Thuộc loại nền đất yếu thường là đất sét có lẫn nhiều hữu cơ; Sức chịu tải bé (0,5 – 1kg/cm2); Đất có tính nén lún lớn (a>0,1 cm2/kg); Hệ số rỗng e lớn (e > 1,0); Độ sệt lớn (B>1); Mô đun biến dạng bé (E<50kg/cm2); Khả năng chống cắt (C) bé, khả năng thấm nước bé; Hàm lượng nước trong đất cao, độ bão hòa nước G>0,8, dung trọng bé Đất yếu thường có độ ẩm cao và sức kháng cắt không thoát nước thấp. Đất thuộc dạng cố kết bình thường và có khả năng thấm nước thấp. Mực nước ngầm trong nền đất thường nằm gần bề mặt, cách từ 0,5 đến 2,5m.
Một số trường hợp đất yếu có hàm lượng hữu cơ cao và có cả lớp than bùn. Đối với một vài loại đất, do lún thứ cấp chiếm từ 10-25% độ lún tổng cộng. Trong một số khu vực của các thành phố, mặt cắt địa kỹ thuật cho thấy nền đất bao gồm các lớp đất với độ chặt, độ cứng, độ thấm và chiều dày khác nhau. Một vài chỉ số tiêu biểu của đất có thể tham khảo như sau: - Độ ẩm: W ≥30% đối với đất cát pha, W ≥50% đối với đất sét, W ≥100% đối với đất hữu cơ.
- Chỉ số xuyên tiêu chuẩn N = 0~5. - Sức kháng cắt không thoát nước Cu = 20~40 kPa. Đất yếu có thể là đất sét yếu, đất cát yếu, bùn, than bùn, đất than bùn và đất hữu cơ, đất thải, đất lấp. Đất yếu được thành tạo ở lục địa (đất tàn tích, sườn tích, lũ tích, phong thành, đất lấp, đất đắp) hoặc ở vùng vịnh, ở biển (cửa ông, tam giác châu, vịnh biển hoặc biển).
Ở Việt Nam, đất yếu chủ yếu phân bố ở vùng đồng bằng. Phân loại đất yếu Việc phân loại đất dựa trên ba thí nghiệm nhận dạng chính : - Phân tích thành phần hạt. - Xác định các giới hạn Atterberg. - Đo hàm lượng chất hữu cơ.
Với đất dính thì các giới hạn Atterberg là căn cứ chủ yếu để phân loại đất.Nguồn gốc đất yếu: nguồn gốc khoáng vật hoặc nguồn gốc hữu cơ. Phan Đức Hoàng Trang 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sĩ kỹ 2015 thuật a) Loại có nguồn gốc khoáng vật: thường là sét hoặc á sét trầm tích trong nước ở ven biển, vùng vịnh, đầm hồ, đồng bằng tam giác châu thổ; loại này có thể lẫn hữu cơ trong quá trình trầm tích (hàm lượng hữu cơ có thể tới 10~12%) nên có thể có màu nâu đen, xám đen và có mùi. Đối với loại này được xác định là đất yếu nếu ở trạng thái tự nhiên có: - Độ ẩm gần bằng hoặc cao hơn giới hạn chảy (WL). - Hệ số rỗng : sét e ≥1.
- Lực dính (C) theo kết quả cắt nhanh không thoát nước: C u < 0.15 daN/cm², hoặc lực dính kết từ kết quả thí nghiệm cắt cánh ngoài hiện trường C u < 0. - Góc nội ma sát từ φ = 0~10°. Ngoài ra ở các vùng thung lũng còn có thể hình thành đất yếu dưới dạng bùn cát, bùn cát mịn (hệ số rỗng e>1. b) Loại có nguồn gốc hữu cơ: thường hình thành từ đầm lầy, nơi nước tích đọng thường xuyên, mực nước ngầm cao, tại đây các loài thực vật phát triển, thối rữa và phân hủy tạo ra các vật lắng hữu cơ lẫn các trầm tích khoáng vật.
Loại này thường gọi là đất đầm lầy than bùn, hàm lượng hữu cơ chiếm tới 20~80%, thường có màu đen hay nâu sẫm, cấu trúc không mịn vì lẫn các tàn dư thực vật. Các đặc trưng của loại đất này (W , e , Cu,. ) cũng được xác định giống như loại trên. Đất yếu đầm lầy than bùn còn được phân theo tỷ lệ lượng hữu cơ có trong chúng: - Đất nhiễm than bùn: Lượng hữu cơ có từ 20~30%.
- Đất than bùn: Lượng hữu cơ có từ 30~60%. - Than bùn: Lượng hữu cơ trên 60%.Phân loại theo trạng thái tự nhiên : a) Đất yếu loại sét hoặc sét pha phân loại theo độ sệt IL - Nếu IL > 1 thì được gọi là bùn sét ( đất yếu ở trạng thái chảy).75 < IL < 1 là đất yếu dẻo chảy. b) Đất yếu loại đầm lầy than bùn được phân loại như sau: - Loại 1: loại có độ sệt ổn định, thuộc loại này nếu vách đất đào thẳng đứng sâu 1m trong chúng vẫn duy trì được ổn định trong 1~2 ngày. - Loại 2: loại có độ sệt không ổn định, loại này không đạt tiêu chuẩn loại 1 nhưng đất than bùn chưa ở trạng thái chảy.
- Loại 3: đất than bùn ở trạng thái chảy. Phan Đức Hoàng Trang 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sĩ kỹ 2015 thuật 2.Các yếu tố ảnh hưởng đến phương án kỹ thuật xây dựng - Thời gian yêu cầu thi công các công trình. - Biên độ các biến dạng cho phép áu khi đưa vào sử dụng. - Bó buộc về môi trường dự án (Phạm vi chiếm đất, sự nhạy cảm với chấn động, việc bảo vệ nước ngầm.
- Những bó buộc về ngân sách.Các biện pháp xử lý nền đất yếu 2. Tiêu chuẩn ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp xử lý Lựa chọn phương án kỹ thuật xây dựng được tiến hành bằng cách so sánh giá thành của các giả pháp sẽ thoả mãn một loạt các tiêu chuẩn sau: - Khả năng thi công các công trình. - Ảnh hưởng của công trình đối với môi trường. - Thời hạn thi công.
- Sự thoả mãn các yêu cầu phục vụ của công trình khi hoàn thành. - Các bó buộc chung ở các công trường giao thông. Khả năng cung ứng vật liệu và thiết bị - Đất, cát đắp với số lượng đầy đủ (Bệ phản áp, gia tải tạm thời, thay thế một phần hoặc toàn bộ đất xấu). - Các vật liệu nhẹ (Polystyrene nở, các kết cấu tổ ong, lốp xe cũ.
- Xi măng hoặc vôi. Tác động đối với môi trường: Các công trình phải tôn trọng các quy phạm hiện hành về: - Bảo vệ nguồn nước (Duy trì các dòng chảy thiên nhiên, bảo vệ nước ngầm và các nguông nước.) - Chống tiếng ồn và chấn động, bảo vệ các công trình nhạy cảm hai bên đường. Vận chuyển đổ đi các vật liệu không sử dụng lại (Thay đất xấu). Thời hạn thi công - Công tác làm đất trên đất yếu thường nàm trên đường găng của tiến độ thi công.
Một số kĩ thuật cần có thời gian chờ đợi mà việc dự báo rất khó chính xác( Xây dựng theo giai đoạn, gia tải tạm thời, cọc cát, cố kết theo phương án hút Phan Đức Hoàng Trang 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sĩ kỹ 2015 thuật chân không), sự không chắc chắn này sẽ giảm bớt trong khi thi công , cần được xét đến khi chọn giải pháp. - Một số kỹ thuật cần có thời gian hoàn thành chính xác tại một địa điểm của công trường, như vậy có thể tác động đến tổ chức chung. Yêu cầu phục vụ công trình - Một tiêu chuẩn chủ yếu để chọn các kỹ thuật xây dựng là công trình làm xong phải thỏa mãn các quy định kỹ thuật của người sử dụng và độ lún tổng cộng, độ lún không đều. - Sự phân bố giữa giá thành xây dựng và giá thành khai thác trong giá thành tổng cộng của công trình có thể thay đổi khi chuyển từ một kỹ thuật này sang một kỹ thuật khác.
Vì vậy giá thành thỏa mãn các yêu cầu phục vụ phải được đánh giá bằng cách cộng thêm giá xây dựng và bảo dưỡng. Các trở ngại chung của các công trường giao thông - Công tác giải phóng mặt bằng. - Công tác thoát nước và đào bỏ đất yếu. - Bố trí các hố lấy đất và các đống đất thừa.
- Các công trình hiện hữu cần bảo vệ trong quá trình thi công. Các giải pháp xử lý nền đất yếu. Do đất yếu là loại đất có sức chịu tải nhỏ và biến dạng lớn nên đường đắp trên đất yếu thường lún nhiều, thời gian lún kéo dài, nền đường dễ mất ổn định do đó thường phải có những biện pháp xử lý đặc biệt để đạt được mục tiêu: - Bảo đảm sự ổn định của nền đắp trong khi xây dựng. - Đạt được tốc độ lún phù hợp với thời gian thi công.
Có khá nhiều biện pháp xử lý và do đó cũng có khá nhiều phương pháp xây dựng nền đắp trên đất yếu. Trong các biện pháp đó một số là nhằm cải thiện sự ổn định của nền đắp (như giảm trọng lượng nền đắp, tăng chiều rộng nền đường, làm thoải ta luy, làm bệ phản áp, cho nền đắp chôn sâu vào đất yếu), một số biện pháp nhằm tăng cường độ (tăng C, φ) của đất yếu, một số biện pháp khác nhằm tăng nhanh tốc độ cố kết hoặc giảm độ lún tổng cộng (như làm giếng cát, cột ba lát, cột đất gia cố, nền cọc, bấc thấm…). Tuy nhiên nếu phân tích kỹ thì đại bộ phận các biện pháp đều có liên quan cả 2 vấn đề ổn định và lún. Trên thực tế có thể chia thành 3 nhóm biện pháp xử lý sau: Phan Đức Hoàng Trang 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sĩ kỹ 2015 thuật - Thay đổi, sửa chữa đồ án thiết kế (như giảm chiều cao nền đắp hoặc di chuyển vị trí tuyến đến khu vực có chiều dày lớp đất yếu mỏng).
Đây là biện pháp tốt nhất và nên áp dụng. - Các biện pháp có liên quan đến việc bố trí thời gian (xây dựng theo giai đoạn), các giải pháp về vật liệu (bệ phản áp, đắp bằng vật liệu nhẹ, đào bỏ một phần đất yếu…) hoặc các biện pháp liên quan đến cả hai giải pháp trên (gia tải tạm thời). - Các biện pháp xử lý bản thân nền đất yếu (như giếng cát, bấc thấm, cột ba lát, cột đất gia cố, nền cọc…).