MỞ ĐẦU Công nghiệp hóa-hiện đại hóa đã và đang đem lại nhiều thành tựu cho phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước bởi các chất thải hữu cơ từ các ngành công nghiệp cũng ngày càng cao. Vì vậy, xử lý chất gây ô nhiễm trong nước rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống. Thuốc nhuộm tổng hợp có nguồn gốc hữu cơ được sử dụng phô biến trong các ngành công nghiệp như: dệt vải, thuộc da, giấy, cao su, nhựa, thực phẩm.
Nước thải công nghiệp chứa thuốc nhuộm hữu cơ là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe của hệ sinh thái vì chứa nhiều hóa chất độc hại và chất rắn lơ lửng [9, 26], có thể gây ung thư và đột biến gen [13]. Hiện nay, nhiều phương pháp xử lý nước thải chứa thuốc nhuộm hữu cơ đã được nghiên cứu như: keo tụ [39, 46], màng lọc [22], phương pháp phân hủy quang xúc tác [65], điện hóa [2, 4] va hap phụ [29, 42]. Trong đó, hấp phụ là một trong số các phương pháp hiệu quả đề xử lý thuốc nhuộm mang điện tích trong môi trường nước. Phương pháp hấp phụ rất phù hợp đối với các nước đang phát triển khi sử dụng các vật liệu hấp phụ sẵn có, rẻ tiền [62].
Các oxit kim loại là thành phần chính của vật liệu hấp phụ tự nhiên giá rẻ. Vật liệu nano đã phát triển mạnh mẽ trong thập kỷ qua. Ưu điểm nỗi trội của vật liệu hấp phụ nano so với vật liệu hấp phụ thông thường là kích thước hạt rat nhỏ, điện tích bề mặt lớn hơn, dễ hoạt hóa thay đổi điện tích bề mặt và đặc biệt dé điều chỉnh đặc tính về hình thái, kích thước, lỗ xốp,.làm tăng hiệu quả xử lý các chat ô nhiễm trong môi trường nước [28]. Nhôm oxit (Al›Oa) được biết đến là một vật liệu oxit kim loại được ứng dụng phổ biến làm vật liệu hấp phụ trong kỹ thuật môi trường.
AlzO› có nhiều pha cấu trúc khác nhau như: ơ, ÿ, y, nị, 9, k, and x [34]. Vật liệu AlzOa có diện tích bề mặt lớn, cấu trúc xốp, đặc biệt có thể chế tạo được ở kích thước nano rất phù hợp làm vật liệu hấp phụ xử lý hiệu quả các thuốc nhuộm mang điện. Tuy nhiên, tỷ trọng điện tích của vật liệu AlzOa ở pH trung tính không cao, nên khả năng xử lý trực tiếp thuốc nhuộm mang điện tích đương thấp. Vì vậy, việc biến tính bề mặt vật liệu AlaOs để nâng cao hiệu suất xử lý là cần thiết.
Natri dedocyl sulfat (SDS) là một chất hoạt động bề mặt mang điện âm (anion) thân thiện với môi trường. SDS đã được sử dụng để biến tính bề mặt AlzO› xử lý chất gây ô nhiễm hữu cơ và vô cơ trong nước [10, 48]. Rhodamine B (RhB) là một thuốc nhuộm mang điện tích dương (cation), được ứng dụng rộng rãi trong các hoạt động công nghiệp. RhB có khả năng gây ung thư, được tìm thấy trong nhiều nguồn nước thải [20, 63].
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu xử lý RhB bằng một số loại vật liệu hấp phụ. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào sử dụng vật liệu nano AlzO› với các thành phần pha khác nhau được biến tính bề mặt bằng SDS đề xử lý RhB. Đề nghiên cứu đặc tính, cơ chế hấp phụ RhB trên nano AlaOs biến tính bằng SDS, các phương pháp phân tích quang phô hiện đại như: phổ hấp thụ phân tir (UV- Vis), phổ nhiễu xạ tia X @XRD), và phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR) va phép đo thế zeta là công cụ đắc lực cần được sử dụng linh hoạt. Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Ứng dụng các phương pháp phân tích quang phô hiện đại nghiên cứu đặc tính hấp phụ bề mặt của thuốc nhuộm mang điện trên vật liệu nano nhôm oxit biến tính”.
Với mục tiêu nghiên cứu là tổng hợp nano AlzOs với hai pha tinh thé gamma (y) và anpha (œ) AlaO›. Ứng dụng các phương pháp phân tích vật lý hiện đại nghiên cứu đặc tính của vật liệu tổng hợp cũng như đặc tính hấp phụ, cơ chế hấp phụ của thuốc nhuộm mang điện dương RhB trên vật liệu nano AlaO¿ biến tính bé mat bang SDS. Giới thiệu về nhôm oxit 1. Cấu tạo của nhôm oxit Nhôm oxit là hợp chất của nhôm và oxi với công thức hóa học AlaO› (Hình 1.
Nhôm oxit thường được gọi là: nhôm oxit, aloxit hay alundum tùy thuộc vào cấu tạo hình học và ứng dụng cụ thể. Nhôm oxit xuất hiện trong tự nhiên ở dạng đa tinh thể ø-AlzOa như khoáng corundum, các dạng tạo thành đá quý và ngọc bích quý. ` | Ad mad mad ` ad Nad ead end > cá <> bp Sd pe a ` `#Z 4 pm ag Tf (= PHUN Pen, 7 Ay dN ; AN YS q> ` Hình 1. Cấu trúc tỉnh thể của nhôm oxit 1.
Tính chất của nhôm oxit Nhôm oxit là một chất cách điện nhưng khả năng dẫn nhiệt tương đối cao trong các vật liệu gốm (30 Wm!K”'. Nhôm oxit không bị hòa tan trong nước. Dang tinh thé thường xuất hiện nhiều nhất là corundum hoặc a-nhôm oxit. Nhôm oxit đóng vai trò bảo vệ nhôm kim loại không bị oxi hóa.
Nhôm kim loại là chất hoạt động hóa học mạnh, phản ứng với oxi trong khí quyên, tạo thành một lớp mỏng nhôm oxit (độ dày 4 nm) trên bề mặt. Lớp này bảo vệ nhôm kim loại khỏi quá trình oxy hóa thêm nữa. Độ dày và tính chất của lớp oxit có thể được tăng cường bởi quá trình anot hóa. Một số hợp kim, chẳng hạn như đồng thau nhôm, được chế tạo bằng cách cho thêm một lượng nhỏ nhôm vào hợp kim của đồng và thiếc để tăng tính chống ăn mòn [18].
Các thành phần pha của AlzOa Nano-AlzOs tồn tại trong tự nhiên ở nhiều pha tỉnh thể khác nhau như (œ,x,n,ỗ,k,6,y,p)-AlaOa. Trong đó, ø-AlaOs là pha bền vững nhất và xuất hiện nhiều nhất trong tự nhiên. Sự khác nhau trong cấu trúc của AlaOa là do sự chuyên tiếp và phát sinh trong quá trình nhiệt phân nhôm hidroxit trong các khoảng nhiệt độ khác nhau. Sự chuyển pha này là không thuận nghịch và thường xảy ra tại một khoảng nhiệt độ nhất định (Hình 1.
250°C 900°C 1200°C gibbsite (Al(OH)3) > x-Alz03 => K-AlzOs —> a-Al203 230°C 850°C 1200°C bayerite (Al(OH)s3) => rTỊ-AlạOs — 0-Al03 > a-AlO3 450°C 600°C 1050°C 1200°C boehmite (AIOOH) => y-Al,03 => §-Al,03 => 0-AlzOa => œ-AlzOa 450°C diaspore > a-Al,03 Hình 1. Sơ đồ mô tả quá trình chuyển pha của nhôm oxit theo nhiệt độ Trong các pha cấu trúc tinh thể của nhôm oxit thì ø-AlzO3 và y-AlaOa là hai pha tinh thé quan trọng nhất. Pha ơ-AlzO› ôn định ở nhiệt độ cao, đại diện cho cau trúc khối của corundum, trong khi đó y-AlzOa có hoạt tính cao và có diện tích bề mặt riêng lớn.3 minh họa cấu trúc của 2 pha tinh thé o-Al2O3 (a) và y-AlaOa (b) [241. ‘ea ‘ee (fe ¢ fe & ` ` ` PA” A \ OH [OOo oe Lo 4% a 4 A Lọ @* ® L N N7 Hình 1.
Cấu trúc tỉnh thể của a-AlO3 va y-ALO3 Hai pha tinh thể y-AlaOs và ø-AlaO› được tập trung nghiên cứu trong luận văn này. Các phương pháp tống hợp vật liệu nano nhôm oxit Các phương pháp hóa học tông hợp vật liệu nano AlzO› bao gồm: phương pháp sol-gel và phương pháp thủy nhiệt. Phương pháp sol-gel Phương pháp sol-gel dựa trên sự biến đổi của sol thu được từ kim loại alkoxit hoặc tiền chất organometallic. Quá trình sol-gel thường được gọi là quá trình sa lắng dung dịch hóa học, có nhiều ứng dụng trong khoa học vật liệu và gốm sứ.
Quá trình gồm các bước sau [56]: ¢ Tao sol én dinh bang cach su dung tién chat ©_ Tạo gel bằng cách thêm thuốc thử thích hợp © Ủ để gel phát triển, già hóa thành khối rắn e Lam khé gel e Nung gel trong 16 6 nhiét dd cao Theo phương pháp này, các dung dịch chứa ion khac nhau được trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp, dưới tác động của nhiệt độ, áp suất và điều kiện pH thích hợp. Đặc điểm của phương pháp này là rẻ tiền và có thê chế tạo được một khối lượng lớn vật liệu. Quy trình do Rodica và cộng sự đề xuất sử dụng 2 tiền chất nhôm clorua (AICI:) và nhôm triisopropylate (C:H;O):Al. Đối với tiền chất AICl:: thêm từ từ dung dịch NHạ 28% vao dung dich AICI; 0,1M trong dung mdi ethanol dé tao gel; gel được ủ trong 30 giờ ở nhiệt độ phòng và sấy khô ở 100°C trong 24 giờ.
Đối với tiền chat 1a (C3H70)3Al: thêm tir tir dung dich NH3 28% vao dung dich (C3H70)3Al 0,1M trong dung mdi ethanol lac nhe 6 90°C trong 10 giờ để tạo øel; gel được ủ trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng và sấy khô ở 1009C trong 24 giờ. Các gel thu được được nung trong lò nung trong 2 giờ ở nhiệt độ 10000 C và 12000. Hạt nano thu được có kích thước hạt lớn và được ứng dụng trong y tế như một công cụ sinh học [53]. Dé thay đổi kích thước hạt nano như mong muốn trong quá trình tổng hợp, có thể sử dụng thêm các chất hoạt động bề mặt như polyethylene glycol, polyvinyl alcohol [36].
Phương pháp thủy nhiệt Phương pháp thủy nhiệt là một quá trình tông hợp vật liệu đơn giản, an toàn và nhanh chóng, trong đó ưu điểm chính là tiết kiệm năng lượng và thời gian. Hạt vật liệu có các kích cỡ từ nhỏ đến rất nhỏ. Trong nghiên cứu của Dinesh và cộng sự [40], phương pháp thủy nhiệt đã được ứng dụng với nguyên liệu ban đầu là muối nhôm nitrat (Al(NO)s) và Urê để tổng hợp hạt nano AlaO› vì khả năng tổng hợp được các hạt có kích thước rất nhỏ với chi phí thấp. Quy trình tổng hợp tiến hành qua các bước: Đồng nhất (vật liệu thô (AI(NO)s) va Uré ty 1é mol 1:1) trong dung dịch nước.
Dung dịch sau khi đã đồng nhất được sây khô trong lò nung ở nhiệt độ 1100 C thu được bột nhão. Bột nhão thu được, được nung ở 250 - 500C. Bột sau khi nung được ủ ở điều kiện môi trường. Bột sau khi ủ, được hòa tan trong nước và được rung siêu âm để phân tán hạt nano trong chất lỏng (nanofluid).
Bước cuối cùng là kiểm tra độ phân tán của hạt. Đề cải thiện sự phân tán tốt hơn của các hạt nano, chất hoạt động bề mặt đã được thêm vào dung dịch. Hạt nano AlaO› thu được theo phương pháp này có diện tích bề mặt riêng đo theo phương pháp BET lên đến 274,01 (m?/g) và kích thước hạt là 5,52nm.