MỞ ĐẦU Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng CSVN đã để ra :” Mục tiêu của CNH,HĐH là xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, đời sống vật chất và tỉnh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn mình. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu dua nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp ”. Đặc điểm quan trọng nhất và quyết định nhất của CNH là sự thay thế kỹ thuật thủ công bằng máy móc trên quy mô toàn bộ nền KTOD, đẩy mạnh sự phân công LĐXH và sản xuất hàng hoá, tạo ra bước ngoặt trong việc nâng cao NSLĐXH, biến đổi một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp tiên tiến. Trong giai đoạn hiện nay, CNH còn bao gồm cả những yếu tố của một xã hội tin học, hậu công nghiệp.
Nên thực chất của CNH là sự phát triển công nghệ, là quá trình chuyển nên sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp lên trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại. Để thực hiện mục tiêu trên, nghị quyết đại hội cũng đã đưa ra quan điểm “ Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bên vững” và phát triển NNL trở thành điều kiện tiên quyết đấm bảo cho sự thành công của quá trình CNH,HĐH. Để lãnh đạo thực hiện mục tiêu của Đại hội VIII đã để ra,Bộ chính trị đã có chỉ thị nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển KT-XH đến năm 2010 và tâm nhìn đến năm 2020 trong đó có việc xây dựng chiến lược phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực (NNL) đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH dất nước. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu xung quanh van dé phát triển NNL và đã đạt được những thành tựu có giá trị.
Kinh nghiệm của một số nước thành công trong phát triển nhờ có một chiến lược phát triển NNL đúng đắn rất đáng để chúng ta học tập.Tuy nhiên, ở Việt nam hiện nay đã và đang có nhiều công trình, để tài nghiên cứu về từng mặt của vấn để phát triển con người như xây dựng chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo,chiến lược phát triển khoa học và công nghệ; Chiến lược phát triển các ngành ytể, văn hoá. nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp chiến lược phát triển NNL đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH và cũng chưa có những cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển con người-NNL một cách toàn điện, có hệ thống và đồng bộ để thống nhất nhận thức, vận dụng vào nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển KT-XH. Đề tài này với mục tiêu xác định những cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu làm cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển NNL trong chiến lược phát triển KT-XH ở Việt nam đến năm 2020 ở giai đoạn sau hy vọng sẽ đóng góp một phần để giải quyết vấn đề đó. Kết quả nghiên cứu của đề tài gồm có: 1.
Báo cáo tổng hợp những vấn dé cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển NNL trong chiến lược phát triển KT-XH. Các báo cáo chuyên đề: - Tổng quan lý luận và kinh nghiệm của một số nước - Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chiến lược phát triển thể lực con người - Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chiến lược phát triển trí lực và kỹ năng lao động của ÑNL - Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chiến lược phát triển nhân cách con người của NNL -Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chiến lược phái triển Việc làm và thúc đẩy phân công LĐXH PHAN THU NHAT CƠ SỞ LÍ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIEN CUU XAY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC I. MOT SO KHÁI NIỆM VÀ QUAN NIỆM CHUNG Nhận thức của chúng tôi khi xây đựng nội dung phương pháp nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực (NNL) trong quá trình nghiên cứu xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH dựa trên các căn cứ sau đây: 1. Nguồn nhân lực: - Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người (Human Resources - HR), là một bộ phận của các nguồn lực cần được huy động, quản lý để thực hiện những mục tiêu đã định, giống như các nguồn lực vật chất (Physical Resources), nguồn lực tài chính (Financial Resources).
Trong cạnh tranh kinh tế, chất lượng của NNL có ý nghĩa cực kỳ quan trọng không chỉ ở hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà còn ở vị thế xã hội của mỗi cá nhân người lao động và của đất nước. - Theo định nghĩa của LHQ: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiểm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng. Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế hoạch hoá (KHH) ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật lao động nước CHXHCN Việt Nam ( Nam đủ 15 đến hết 60, Nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi ), có khả năng lao động. Đây là lực lượng lao động tiém tang có thể huy động vào các hoạt động của nền KT-XH.
Cân phải phân biệt rõ nguồn lực con người với nguồn lực vật chất. Con người có cảm giác, họ có thể hít thở và rất nhậy cảm với những tác động của mọi mối quan hệ qua lại diễn ra tại môi trường nơi họ sống và làm việc. Sức lao động và các thành tố của nó. Sức lao động là " Toàn bộ những năng lực thể chất và tỉnh thần tôn tại trong một cơ thể một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sẵn xuất ra một giá trị sử dụng nào đó ".1- Những nhân tố cấu thành sức lao động Sản xuất xã hội là quá trình con người sử dụng tư liệu sản xuất tác động vào đối tượng sản xuất để tạo ra của cải vật chất và tinh thần cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Nhân tố con người, mà đặc biệt là nhân tố sức lao động có đặc trưng thể hiện khả năng phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội, có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người. Như vậy, sức lao động là một phạm trù kinh tế - xã hội tổng hợp bao gồm các thành tố sau: - Hệ thống nhân tố thể lực ( Ï ). - Hệ thống nhân tố trí lực-văn hoá ( 2 ). - Hệ thống nhân tố ý thức xã hội ( 3 ).
Hệ thống nhân tố thể lực. * Quan niệm về thể lực con người: Thế nào là một con người có thể lực (hay sức khoẻ) tốt ? Trong điền kiện nền kinh tế mở, việc phát triển kinh tế theo hướng CNH và HĐH không thể chỉ dựa vào lao động thủ công, cần cù chịu khó mà phải là lao động thông minh, sáng tạo, có trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cao, thích ứng với công nghệ hiện đại, có kỹ năng giỏi. Nhưng trước hết, để đạt được một trình độ lao động như vậy con người phải có sức khoẻ, sức khoẻ là cái gốc để con người phát triển. Vì vậy đầu tư cho sức khoẻ là đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân và gia đình.
Người khoẻ mạnh không chỉ là không có bệnh mà còn có khả năng thích nghỉ nhanh chóng với những điều kiện thường xuyên thay đổi của môi trường, đáp ứng các nhu câu hoạt động, khả năng hoàn thành các chức năng sinh học, xã hội, nghề nghiệp ở mức đầy đủ nhất. Đó cũng là trạng thái cân bằng cực đại giữa con người với môi trường thiên nhiên và xã hội. Tổ chức y tế thế giới (WHO) xác định sức khoẻ là "một trạng thái của một con người thoải mái về thể chất, trí tuệ và xã hội”. Để đạt được khả năng đó cần phải tạo ra và tăng cường sức khoẻ cho con người.
Như vậy, phương pháp tiếp cận tiến bộ đối với khái niệm sức khoẻ phải là tiếp cận định lượng súc khoẻ là tổng các công suất dự trữ ở các hệ thống chức năng cơ bản của mỗi con nguoi. Vấn đề sức khoẻ đã vượt qua khỏi phạm vì của y học, y tế dù rằng đó là lĩnh vực rất gần gũi, nó được hình thành như một kết quả tổng hoà của sự phát triển kinh tế và xã hội và nó chịu tác động của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội. Có thể nói sức khoẻ con người là biểu hiện tổng hợp của trình độ phát triển kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia, mà trước hết là các điều kiện lao động, mức sống, điều kiện y tế. Các quốc gia đều cho rằng sức khoẻ là một yếu tố quan trọng của chất lượng cuộc sống của mỗi xã hội.
Chính vì thế mà ngày nay người ta đề cập đến khái niệm sức khoẻ xã hội. Sức khoẻ xã hội hình thành từ sức khoẻ của các cá thể. Đó là một khái niệm với những số liệu thống kê tổng hợp phân tích cho phép dự báo sự xuất hiện của những dấu hiệu mới của tình hình sức khoẻ nhân dân. Đó là đối tượng nghiên cứu xã hội vì sức khoẻ cộng đồng với những nét đặc trưng về chính trị, kinh (ế sẽ là cấu phần quan trọng của cơ thể xã hội.
* Các yếu tố chủ yếu tác động đến phát triển thể lực con người: Rõ ràng từ nhận thức mang tính toàn diện hơn đối với khái niệm sức khoẻ có thể thấy sức khoẻ con người phụ thuộc vào chức năng sinh học, điều kiện môi trường bên ngoài của con người, đặc biệt là môi trường xã hội bao gồm cả chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khoẻ. - Yếu tố sinh học : Là các quy định đặc thù sinh bọc như giới tính, tuổi tác, sự di truyền và thể trạng bẩm sinh. Yếu tố này gắn liên với sức khoẻ cá nhân mà để đánh giá tình trạng của nó người ta có thể kiểm tra lâm sàng. - Môi trường tự nhiên : là điều kiện để con người sống và phát triển.