Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Lý luận về dạy tiếng 1.1 Ngôn ngữ và quá trình tiếp nhận ngôn ngữ: Cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về ngôn ngữ (khoảng hơn 400 định nghĩa về ngôn ngữ). Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng mỗi lĩnh vực nghiên cứu lại chọn một định nghĩa phù hợp cho hướng nghiên cứu của mình. Trong giảng dạy ngôn ngữ kể cả giảng dạy ngoại ngữ và giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, các nhà ngôn ngữ học và giáo dục đều nhận thấy hướng định nghĩa phù hợp hơn cả là: - Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp, như Lê Nin nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người” - Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu âm thanh (theo Ferdinand De Saussure) [14]. Như vậy, đứng trên phương diện ngôn ngữ học dạy tiếng, chúng ta có thể chấp nhận định nghĩa sau: “Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu âm thanh mà con người dùng để giao tiếp”.
Các nhà ngôn ngữ học cũng thống nhất rằng, một con người sinh ra, ngoài ngôn ngữ đầu tiên được tiếp xúc và trở thành ngôn ngữ thứ nhất, tức là ngôn ngữ này sẽ được sử dụng từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành trong xã hội, cộng đồng dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó, thì bất cứ ai cũng có khả năng tiếp nhận thêm ít nhất một ngôn ngữ nữa và tất cả các ngôn ngữ tiếp nhận sau ngôn ngữ thứ nhất đều được gọi là ngôn ngữ thứ hai. - Về quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ nhất: Con người tiếp nhận ngôn ngữ thứ nhất qua hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất cũng là giai đoạn đầu tiên con người tiếp nhận ngôn ngữ một cách vô thức và theo thói quen; giai đoạn thứ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hai là giai đoạn con người phát triển ngôn ngữ thứ nhất thông qua việc học tập ngôn ngữ trong trường học và các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ trong môi trường ngôn ngữ tự nhiên [41]. Điều này có liên quan đến năng lực ngôn ngữ của con người.
Năng lực ngôn ngữ là khả năng tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp. Theo quan điểm của ngữ pháp học tạo sinh, con người sinh ra đã có năng lực nắm vững tiếng mẹ đẻ. Điều đó lí giải vì sao trẻ em chưa được học các kiến thức ngôn ngữ đã có khả năng nói những câu hoàn chỉnh và một người chưa được học ngữ pháp cũng có thể phân biệt câu sai, câu đúng. Ngôn ngữ của con người có đời sống sinh động, được hình thành từ hai nửa: “một nửa là năng lực ngôn ngữ” (thuộc phạm trù tâm lý) và một nửa khác là “sự vận dụng ngôn ngữ” (thuộc phạm trù xã hội).
- Về quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai: Ngôn ngữ thứ hai được phân biệt với ngôn ngữ thứ nhất bởi thứ tự tiếp nhận và học tập ngôn ngữ. Vì thế, ngôn ngữ thứ hai có nội hàm phong phú. Ngôn ngữ thứ hai còn gọi là ngôn ngữ đích – ngôn ngữ mà một người đang học và muốn thông qua quá trình học tập thụ đắc được ngôn ngữ này. Quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai cũng không giống ngôn ngữ thứ nhất.
Ngôn ngữ thứ nhất được tiếp nhận một cách tự nhiên hơn còn ngôn ngữ thứ hai được tiếp nhận chủ yếu qua các tài liệu học tập và phức tạp hơn bởi có sự tác động của chính ngôn ngữ thứ nhất và các yếu tố khác. Môi trường học tập ngôn ngữ thứ hai thường là trường lớp, chịu sự chi phối của của giáo viên và giáo trình, người học ít được tham gia vào những hoàn cảnh giao tiếp thực tế, ngôn ngữ trong giáo trình nhiều khi cũng khác so với ngôn ngữ trong giao tiếp thực tế. Ngoài ra còn có các nhân tố tác động khác như vấn đề tuổi tác, quan niệm của cá nhân, gia đình và xã hội đối với ngôn ngữ thứ hai, vấn đề sức khoẻ, tâm lí, động cơ thúc đẩy người học, các điều kiện về các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ… 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, những kết quả, nghiên cứu về quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai của con người như trên có tác dụng to lớn trong việc giúp cho các giáo viên và người học tìm tòi những phương pháp dạy và học phù hợp, có hiệu quả.2 Những đặc điểm cơ bản của việc dạy tiếng Trong một thế giới ngày càng “phẳng”, cho đến nay, cùng với sự phát triển của nhu cầu học ngoại ngữ, đã xuất hiện nhiều quan điểm về phương pháp dạy tiếng. Từ phương pháp ra đời sớm nhất là phương pháp ngữ pháp-dịch, tiếp đó là một số phương pháp nhằm đáp ứng những nhu cầu học khác nhau như phương pháp trực tiếp, phương pháp thực hành có ý thức hay những phương pháp ra đời khi có sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật như phương pháp nghe – nói, phương pháp nghe – nhìn và một phương pháp được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây là phương pháp giao tiếp với việc coi người học là đối tượng trung tâm trong lớp học và chú trọng việc phát triển năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Mặc dù, các phương pháp được xây dựng và áp dụng trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng về cơ bản, các hoạt động trong giảng dạy ngôn ngữ thứ hai vẫn có những đặc điểm và nguyên tắc chung. Theo Chen Chang Lai [41], việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai (second language teaching) là các hoạt động giảng dạy một ngôn ngữ mới cho người đã thụ đắc được ngôn ngữ thứ nhất. Các hoạt động này thông thường được tiến hành một cách chính quy trong môi trường nhà trường. Mặc dù việc giảng dạy ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai đều là các hoạt động giảng dạy ngôn ngữ và đều có những quy tắc học tập ngôn ngữ giống nhau nhưng do đối tượng, môi trường và văn hoá nền của người học khác nhau nên việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai cũng có những đặc điểm riêng, chủ yếu thể hiện ở những mặt sau đây: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Mục tiêu của việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai chủ yếu là bồi dưỡng cho người học khả năng vận dụng ngôn ngữ đích để giao tiếp; - Giảng dạy ngôn ngữ thứ hai lấy việc luyện tập các kỹ năng làm trung tâm, thông qua việc luyện tập và lặp đi lặp lại nhiều lần để chuyển các kiến thức ngôn ngữ thành các kỹ năng; - Hình thức giảng dạy “tập trung hoá” ở mức độ cao vì đối tượng học hầu hết là người đã trưởng thành nên trong một thời gian ngắn nhất cần học để tiếp nhận được nhiều nhất và nhanh nhất ngôn ngữ thứ hai.
- Vấn đề giảng dạy ngôn ngữ thứ hai ở giai đoạn cơ sở được coi trọng hơn ở các giai đoạn khác vì đây là giai đoạn định hình, tạo nền móng cho ngôn ngữ đích. Số lượng người học ở giai đoạn này cũng nhiều hơn. Giai đoạn này thể hiện những đặc điểm và quy tắc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai một cách rõ nét nhất; - Việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai rất coi trọng vấn đề so sánh, đối chiếu các ngôn ngữ. Thông qua việc so sánh đối chiếu ngôn ngữ thứ hai với ngôn ngữ thứ nhất sẽ xác định được những trọng tâm giảng dạy và những khó khăn khi giảng dạy; - Việc giảng dạy ngôn ngữ hai có tác dụng chuyển dịch tư duy từ ngôn ngữ thứ nhất sang ngôn ngữ đích.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai đã hình thành nên ngôn ngữ trung gian (interlanguage) như là bước đệm, chuyển tiếp giữa hai ngôn ngữ. Ngôn ngữ trung gian sẽ từng bước rời xa ngôn ngữ thứ nhất và ngày càng tiến gần ngôn ngữ thứ hai trong quá trình học; - Việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai càng coi trọng giảng dạy văn hoá hơn. Hai hoạt động này không thể tách rời nhau, đặc biệt là giảng dạy các kiến thức văn hoá giao tiếp; 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người giáo viên dạy tiếng cần nắm vững những đặc điểm trên đây của hoạt động giảng dạy ngôn ngữ thứ hai để xây dựng những bài giảng, bài học phù hợp với đối tượng học cũng như giảng dạy ngôn ngữ thứ hai một cách có phương pháp và hiệu quả.3 Các kỹ năng ngôn ngữ Trong quá trình phát triển ngôn ngữ và tư duy, con người đã hình thành nên ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Cả hai hệ thống ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết đều phục vụ cho việc giao tiếp của con người, tuy nhiên mỗi hệ thống lại có những sự khác biệt nhất định.
Việc phân biệt hai hệ thống đó sẽ giúp cho việc dạy tiếng có hiệu quả hơn, phục vụ cho nhu cầu giao tiếp ngôn ngữ tốt hơn. Về cơ bản, ngôn ngữ nói là một hệ thống phát âm và thu nhận âm; có nghĩa là, trong giao tiếp ngôn ngữ, giữa người nói và người nghe đã hình thành nên một hệ thống chung về nhận diện, mô tả và phân tích âm, sự đồng nhất giữa âm và nghĩa. Nói cách khác, để có thể giao tiếp được bằng tiếng nói, người ta phải nói được, nghe được và hiểu được. Đây là hai kỹ năng cơ bản cần được rèn luyện để người học có thể sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp.
Hệ thống chữ viết, về cơ bản, gồm 2 loại: chữ ghi âm và chữ ghi ý (bao gồm cả chữ tượng hình). Dù là hệ thống ghi âm hay ghi ý thì chữ viết cũng là một hệ thống ký hiệu dùng để ghi lại âm thanh của tiếng nói con người. Để có thể giao tiếp bằng chữ viết, học sinh cần được rèn luyện kỹ năng đọc hiểu và viết. Trên phương diện giáo dục ngôn ngữ, chúng ta có thể hình dung được sự phân chia như sau: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngôn ngữ Tiếng nói Chữ viết 1.
Đọc Tiếp thụ 2. Viết Truyền đạt Qua sơ đồ trên, chúng ta có thể nhận thấy, 4 mục tiêu chính trong dạy tiếng đáp ứng cho hai địa hạt chính là: dạy ngôn ngữ nói và dạy ngôn ngữ viết với 4 kỹ năng cơ bản mà chúng ta cần chú trọng. Để phát triển ngôn ngữ nói, chúng ta phải tập trung vào hai kỹ năng: nghe – hiểu và nói; để phát triển ngôn ngữ viết, chúng ta phải tập trung vào hai kỹ năng: đọc – hiểu và viết.