phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn dự kiến gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2.Vận dụng phƣơng pháp làm việc nhóm nhằm phát triển năng lực tƣ duy trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10, Trung học phổ thông Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.
Trên thế giới Cuộc sống với vô vàn những biến đổi luôn đặt ra những vấn đề mới, buộc con ngƣời phải suy nghĩ, tìm kiếm những lời giải đáp và những phƣơng tiện để giải quyết vấn đề. Vì vậy, có không ít những công trình nghiên cứu về tƣ duy đã đƣợc ra đời. Daniel Kahneman - tác giả cuốn sách Tư duy nhanh và chậm đƣa ra hai hệ thống tƣ duy tác động đến nhận thức của con ngƣời. Hệ thống thứ nhất đƣợc gọi là cơ chế nghĩ nhanh, tự động, đƣợc sử dụng một cách cảm tính, rập khuôn và tiềm thức.
Hệ thống hai đƣợc gọi là cơ chế nghĩ chậm, dùng logic, có tính toán và ý thức [24, tr. Tác giả đã chứng minh con ngƣời thƣờng đi đến quyết định theo cơ chế nghĩ nhanh hơn nghĩ chậm. Phần lớn nội dung của cuốn sách chỉ ra những sai lầm của con ngƣời suy nghĩ theo hệ thống thứ nhất. Tony Buzan - tác giả của bản đồ tƣ duy - hƣớng dẫn một cách tỉ mỉ, cặn kẽ cách thực hành phƣơng pháp này trong cuốn Lập bản đồ tư duy.
Bản đồ tƣ duy (Mindmap) là một cách để ghi nhớ chi tiết, tổng hợp, phân tích một vấn đề thành dạng lƣợc đồ phân nhánh. Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra 7 bƣớc cụ thể để tạo nên một bản đồ tƣ duy: bắt đầu từ trung tâm, sử dụng nhiều hình ảnh, màu sắc, các đƣờng cong, các nét nối và các từ khóa, từ đó khơi dậy các ý tƣởng mới, suy nghĩ mới [23, tr. Phƣơng pháp này giúp khai thác khả năng ghi nhớ và liên lạc, liên hệ dữ kiện của bộ não. Hàng triệu ngƣời trên thế giới đã áp dụng thành công phƣơng pháp này.
Edward de Bono đã có công trình nghiên cứu mang tên Sáu chiếc mũ tư duy. Sáu chiếc mũ với màu sắc khác nhau, biểu thị cho các cách tƣ duy: Mũ trắng tập trung vào những con số thực khách quan, mũ đỏ chú trọng vào góc 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhìn cảm xúc, mũ đen là sự cảnh giác và thận trọng, mũ vàng hƣớng đến sự lạc quan, mũ xanh lục ám chỉ ý tƣởng mới sáng tạo, mũ xanh lam tập trung vào sự kiểm soát cơ chế quá trình tƣ duy [22, tr. Đó là quan điểm đội duy nhất một chiếc mũ tƣ duy trên đầu. Đội bất cứ kiểu mũ nào đều có nghĩa là bạn đang kiểm soát và hƣớng suy nghĩ của mình theo cách thức của chiếc mũ đó.
Chúng ta có thể tách biệt tình cảm ra khỏi lý trí, tách bạch sự sáng tạo ra khỏi thông tin để tập trung vào xử lý một sự việc. Howard Gardner, nhà tâm lý học hàng đầu tại Đại Học Harvard, và cộng sự đã đặt ra lý thuyết về “đa thông minh” (the theory of multiple intelligences). Theo đó một em học sinh bình thƣờng (ngoại trừ trẻ em bị khuyết tật) đều thông minh tới một mức độ nào đó tại một hay nhiều miền sau đây: lý luận toán học, ngôn ngữ, âm nhạc, không gian, vận động thân thể, thiên nhiên, giao tiếp giữa cá nhân và hiểu rõ nội tâm cá nhân. Lý thuyết về “đa thông minh” của Howard Gardner đã đặt ra nhiều chiến thuật mới về cách giảng dạy và học tập, ngƣời học sinh nhờ đó gặp nhiều cơ hội khám phá ra các tầm cỡ khác nhau về thông minh, đƣợc giúp đỡ để phát triển cả những năng khiếu còn tiềm ẩn.
Theo Howard Gardner, trƣờng học nên giúp đỡ học sinh tham gia học hỏi, phát triển nhiều loại thông minh, cộng tác vào nhiều loại sinh hoạt học đƣờng và xã hội, khiến cho học sinh có khả năng nhiều mặt để sau này phục vụ xã hội theo nhiều chiều hƣớng xây dựng. Brookhart đã đƣa ra hai trong số các mục tiêu giáo dục quan trọng nhất là thúc đẩy việc duy trì và thúc đẩy việc chuyển đổi. Duy trì yêu cầu ngƣời học nhớ những gì họ đã học đƣợc, trong khi đó chuyển đổi đòi hỏi ngƣời học không chỉnhớ mà còn phải hiểu và có thể vận dụng những gì họ đã học đƣợc vào thực tiễn cuộc sống [29, tr. Brookhart đã đƣa ra 3 nguyên tắc để đánh giá tƣ duy bậc cao:1.
Nêu đƣợc yêu cầu, nhiều vụ đối với ngƣời học một cách cụ thể, rõ ràng dƣới dạng văn bản, hình ảnh,… 2. Khuyến khích ngƣời học sáng tạo, không bó buộc vào một tài liệu có sẵn. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phân biệt rõ giữa mức độ khó khăn (khó hay dễ) và mức độ tƣ duy (tƣ duy bậc thấp hay tƣ duy bậc cao) [29, tr. Jean Piaget cho rằng: Tƣơng tác cùng nhau làm xuất hiện mâu thuẫn xã hội, từ đó tạo ra sự mất cân bằng nhận thức giữa mọi ngƣời.
Các cuộc tranh luận liên tục diễn ra và đƣợc giải quyết, nhờ đó góp phần bổ sung hoàn thiện các lý luận, lý lẽ [8, tr. Nhƣ vậy, làm việc nhóm tạo điều kiện cho ngƣời học tranh luận, từ đó nâng cao nhận thức và năng lực tƣ duy của HS. Vào những năm 80 của thế ký XX, thuyết kiến tạo ra đời và là cơ sở cho việc hình thành lí luận dạy học hiện đại nói chung và dạy học theo nhóm nói riêng. Thuyết này đề cập đến nội dung quan trọng: Học là một quá trình mang tính xã hội, văn hóa và nhân cách, do vậy, học không chỉ chịu sự tác động của các tác nhân nhận thức mà còn chịu sự tác động của các yếu tố xã hội và sự tƣơng tác giữa các cá nhân.
Vì vậy, nhóm học tập, nơi kết hợp giữa các yếu tố xã hội và sự hợp tác cá nhân sẽ giúp HS nâng cao đƣợc kết quả học tập cũng nhƣ khả năng tƣ duy. Trong nước Tại Việt Nam, việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh nhằm đào tạo nguồn nhân lực sáng tạo, chất lƣợng cũng đã đƣợc đặt ra rất rõ ràng trong ngành Giáo dục và Đào tạo. Từ cuối những năm 1960, khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” đã đi vào các trƣờng sƣ phạm. Nhiều nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực, chủ động, sáng tạo khám phá ra kiến thức mới đã đƣợc đặt ra.
Từ năm 1970 trở đi, các nghiên cứu về các phƣơng pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực tƣ duy cho học sinh đƣợc chú trọng cả về lí thuyết và thực hành. Trong đó, nổi bật là công trình nghiên cứu: “Cải tiến phƣơng pháp dạy và học nhằm phát huy trí thông minh của học sinh” của tác giả Nguyễn Sỹ Tỳ (1971). 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng trong thời gian này một số tài liệu nƣớc ngoài đã đƣợc dịch để phục vụ giảng dạy và nghiên cứu trong các trƣờng Sƣ phạm nhƣ: “Hoạt động độc lập của học sinh trong quá trình dạy học của tác giả E. Sau nghị quyết Trung ƣơng IV khoá VII (tháng 2/1993), nghị quyết Trung ƣơng II khoá VIII (tháng 12/1996), nghị quyết Trung ƣơng VI khoá IX (4/2002) của Đảng, vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đã trở thành vấn đề quan trọng, cấp bách của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay, “Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm”.
Điểm mấu chốt để phát huy tính tích cực của học sinh và nâng cao chất lƣợng dạy học, đó là giáo viên phải có những biện pháp tổ chức cho học sinh những hoạt động theo nhóm. Điều này đã đƣợc triển khai mạnh mẽ cả về lí thuyết và ứng dụng. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo, nhiều tài liệu đã đƣợc công bố, xuất bản. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu lí thuyết của các tác giả: Trần Bá Hoành (1993): “Dạy học lấy ngƣời học làm trung tâm”, “Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm”.
Theo Nguyễn Hữu Châu, học là quá trình cá nhân tự kiến tạo kiến thức thông qua tƣơng tác với các cá nhân khác, với xã hội và thực tiễn mà có. Từ đó, có thể thấy, quá trình dạy học cần có các hoạt động học tập kết hợp học tập cá nhân với hoạt động nhóm. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Làm việc nhóm 1.
Một số khái niệm a. Nhóm Theo Đặng Đình Bôi, “Nhóm là tập hợp nhiều người cùng có chung mục tiêu, thường xuyên tương tác với nhau, mỗi thành viên có vai trò, nhiệm vụ rõ ràng và có các quy tắc chung chi phối lẫn nhau”[6, tr. Cụ thể, “Nhóm” là tập hợp những cá nhân thỏa mãn 4 yếu tố sau: + Có từ 2 thành viên trở lên + Có thời gian làm việc chung nhau nhất định + Cùng chia sẻ hay thực hiện chung một nhiệm vụ hay một kế hoạch để đạt đến các mục tiêu của nhóm kì vọng. + Hoạt động theo những quy định chung của nhóm.T là đại diện của trƣờng phái nguyên tắc, đã tổng kết thành “5 nguyên tắc vàng” cho hoạt động nhóm và khẳng định: Bất kì một hoạt động nhóm nào cũng phải đảm bảo 5 nguyên tắc này.
Nếu thiếu 1 trong 5 nguyên tắc thì hoạt động nhóm sẽ thất bại [28, tr. Phụ thuộc tích cực: Mỗi thành viên chỉ thành công khi những ngƣời bạn trong nhóm cũng thành công. Sự phụ thuộc tích cực xảy ra khi các thành viên nhận thấy rằng: nếu một ngƣời thất bại, tất cả sẽ thất bại; những nỗ lực của mỗi ngƣời sẽ mang lại lợi ích cho bản thân và các thành viên khác. Sự phụ thuộc tích cực tạo ra cam kết cho sự thành công của cả nhóm.
Trách nhiệm cá nhân: Mỗi thành viên phải có trách nhiệm đóng góp cho mục tiêu chung của nhóm. Phần việc cá nhân phải đƣợc phân công rõ ràng và có sự kiểm tra đánh giá với các thành viên còn lại trong nhóm. Nhóm phải biết từng thành viên đang làm gì, gặp khó khăn, thuận lợi gì, nỗ lực của 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từng thành viên. Nguyên tắc này đảm bảo không ai có thể làm hết mọi công việc trong khi những ngƣời khác ngồi chơi.
Theo quan điểm của Johnson D.