phần mở đầu, phần kết luận, nội dung nghiên cứu chính của luận 7 văn đƣợc cấu trúc gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phƣơng pháp GQVĐ trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội. Quy trình vận dụng phƣơng pháp GQVĐ trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3. Thực nghiệm sƣ phạm.
8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận của việc vận dụng phƣơng pháp giải quyết vấn đề trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 1. Khái quát về phương pháp dạy học giải quyết vấn đề 1. Khái niệm Bản chất của PPDH GQVĐ là GV đƣa ra các tình huống có vấn đề, điều khiển, hƣớng dẫn để HS tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để phát hiện cách GQVĐ và thông qua đó tiếp thu kiến thức, rèn các luyện kĩ năng và đạt đƣợc các mục đích học tập khác.
PPDH này có đặc trƣng cơ bản là "tình huống gợi vấn đề" vì thông thƣờng chúng ta chỉ tƣ duy khi bắt gặp tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề ở đây là gợi ra cho HS các khó khăn về lý thuyết hay thực hành mà HS thấy mình cần phải vƣợt qua, nhƣng không phải ngay lập tức mà bằng một giải thuật nào đó, giải thuật này có đƣợc qua quá trình tƣ duy, suy nghĩ hoặc hiệu chỉnh các kiến thức sẵn có của bản thân. Hiện nay, thiên hƣớng hay sử dụng thuật ngữ "dạy học GQVĐ" hoặc "dạy học đặt và GQVĐ" hoặc "dạy học phát hiện và GQVĐ ". Xét về thuật ngữ, trong tập hợp các PPDH hiện đại có một PPDH đƣợc các nhà nghiên cứu về GD gọi với các tên khác nhau “dạy học nêu vấn đề”, “dạy học GQVĐ”, “dạy học gợi vấn đề”,.
Vì vậy cần có sự giải thích về khái niệm này. Theo tác giả Nguyễn Bá Kim “dạy học nêu vấn đề”, “dạy học gợi vấn đề” đều có chung một nhƣợc điểm là nó chỉ mới dừng lại ở việc đƣa ra vấn đề chứ không đề cập rõ vai trò của HS trong quá trình GQVĐ [16]. Do vậy, hiện nay ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới, thƣờng sử dụng thuật ngữ “dạy học giải quyết vấn đề” hoặc “dạy học đặt và giải quyết vấn đề”. Chính vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “Phƣơng pháp dạy học giải quyết vấn đề”.
Đặc trưng của dạy học giải quyết vấn đề Các nhà nghiên cứu về GD học đều đồng nhất coi dạy học GQVĐ đề là một PPDH. Tuy nhiên, đây không phải là một PPDH cụ thể đơn nhất mà bao gồm một tổ hợp các PPDH liên kết chặt chẽ và có tƣơng tác với nhau. Kharlamov: “Dạy học GQVĐ là việc tổ chức tiến trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề, kích thích ở học sinh GQVĐ, cuốn hút các em vào hoạt động nhận thức, vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học”. Nhƣ vậy chúng ta có thể thấy, mặc dù có nhiều tên gọi và định nghĩa khác nhau tuy nhiên dạy học GQVĐ đều có chung bản chất là GV tạo ra những tình huống có vấn đề, hƣớng dẫn HS phát hiện và GQVĐ để từ đó chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện k năng và đạt mục tiêu học tập.
Nhƣ vậy, dạy học GQVĐ có ba đặc điểm quan trọng là: 1. Tình huống có vấn đề chứa đựng nội dung học tập; 2. Dạy học GQVĐ đƣợc chia thành các giai bƣớc, ở mỗi bƣớc có đều có mục đích riêng; 3. Dạy học GQVĐ đƣợc tổ chức một cách đa dạng, cuốn hút HS chủ động tham gia, tích cực, sáng tạo dƣới sự hƣớng dẫn, gợi mở của GV.
Nhƣ vậy, về mặt bản chất PPDH GQVĐ là kết quả học tập thu đƣợc từ chính kết quả của quá trình GQVĐ. Với PPDH này, kiến thức kĩ năng cần học tập không đƣợc trình bày ở dạng ngầm định có sẵn mà nó tiềm ẩn luôn trong các vấn đề. Khi GQVĐ nó sẽ đƣợc bộc lộ, từ đó ngƣời học sẽ tiếp thu đƣợc các kiến thức, kĩ năng đó. Vì thế, trong bƣớc phát hiện, đƣa ra vấn đề, tổ chức GQVĐ là các nội dung cốt lõi của PPDH GQVĐ.
Theo Nguyễn Thị Thấn có rất nhiều cách gọi khác nhau về phƣơng pháp dạy học GQVĐ [17]. Cách gọi phổ biến của phƣơng pháp dạy học này từ vài thập kỉ trƣớc đây là Dạy học nêu vấn đề, gần đây trong các tài liệu mới về giáo 10 dục học thƣờng gặp các tên gọi: Dạy học GQVĐ, Dạy học đặt và GQVĐ, rồi đến Dạy học phát hiện và GQVĐ. Tất cả các PPDH với tên gọi khác nhau nhƣ trên đều giống nhau ở hai đặc trƣng cơ bản. Đó là có tình huống có vấn đề và các giai đoạn GQVĐ.
Nhƣ vậy có thể sử dụng tên gọi Dạy học GQVĐ để thống nhất cho các cách gọi nêu trên. Đặc điểm cấu trúc, nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội Tự nhiên và Xã hội là môn học bắt buộc ở lớp 1, lớp 2 và lớp 3 đƣợc xây dựng dựa trên nền tảng khoa học cơ bản, ban đầu về tự nhiên và xã hội. Môn học cung cấp cơ sở quan trọng cho việc học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lí ở lớp 4, lớp 5 của cấp tiểu học và các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ở các cấp học trên. Môn Tự nhiên và Xã hội hình thành và phát triển ở học sinh năng lực khoa học bao gồm các thành phần: nhận thức khoa học, tìm hiểu môi trƣờng tự nhiên và xã hội xung quanh, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh tình yêu con ngƣời, yêu thiên nhiên; đức tính chăm chỉ; ý thức bảo vệ sức khoẻ của bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần trách nhiệm với môi trƣờng sống và các năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo).
Về nội dung giáo dục, Chƣơng trình môn Tự nhiên và Xã hội bao gồm 6 chủ đề: Gia đình, Trƣờng học, Cộng đồng địa phƣơng, Thực vật và động vật, Con ngƣời và sức khoẻ, Trái Đất và bầu trời. Mỗi chủ đề nêu trên đƣợc phát triển theo hƣớng mở rộng và nâng cao từ lớp 1 đến lớp 3. Ví dụ: Chủ đề: Gia đình, ở lớp 1 học sinh học về các thành viên và mối quan hệ của các thành viên trong gia đình của mình, lớp 2 là các thế hệ trong gia đình và lớp 3 là họ hàng nội, ngoại. Chủ đề: Trái Đất và bầu trời, ở lớp 1 học sinh học về bầu trời ban ngày, ban đêm và thời tiết; ở lớp 2 là các mùa trong năm và một số thiên tai thƣờng gặp; đến lớp 3 học sinh đƣợc học về phƣơng hƣớng, một số đặc điểm 11 của Trái Đất và Trái Đất trong hệ Mặt Trời.
Tuỳ theo từng chủ đề, nội dung giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống; giáo dục các vấn đề liên quan đến việc giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ cuộc sống an toàn của bản thân, gia đình và cộng đồng, bảo vệ môi trƣờng, phòng tránh thiên tai, giáo dục tài chính. đƣợc thể hiện ở mức độ đơn giản và phù hợp. Ví dụ: Chủ đề: Thực vật và động vật, không chỉ thể hiện rõ mối liên quan giữa con ngƣời và tự nhiên qua việc chăm sóc, bảo vệ cây trồng và vật nuôi ở lớp 1, việc bảo vệ môi trƣờng sống của thực vật và động vật ở lớp 2 và việc sử dụng hợp lí thực vật và động vật ở lớp 3 mà còn tích hợp giáo dục bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ sự đa dạng sinh học. So với chƣơng trình hiện hành, Chƣơng trình môn Tự nhiên và Xã hội mới tinh giản một số nội dung khó hoặc sẽ đƣợc học ở ngay các lớp đầu của cấp trung học cơ sở, đồng thời cập nhật một số nội dung mới gần gũi và thiết thực hơn với học sinh.
- Những nội dung đã tinh giảm: không dạy các nội dung về đơn vị hành chính (làng, xã/phƣờng; huyện/quận; tỉnh/thành phố) và các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, nông nghiệp, công nghiệp,… ở tỉnh/thành phố; giảm bớt một số nội dung kiến thức trong chủ đề Trái Đất và bầu trời; giảm tải một số yêu cầu về cơ chế hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể; tinh giản, điều chỉnh một số yêu cầu cần đạt về an toàn để tránh trùng lặp với môn Đạo đức. - Những nội dung mới đƣợc đƣa vào nhằm tạo cơ hội cho học sinh tìm tòi khám phá môi trƣờng tự nhiên và xã hội xung quanh đồng thời làm tăng tính cập nhật, thực tiễn và ứng dụng của những kiến thức cơ bản cốt lõi trong chƣơng trình môn học. Chƣơng trình môn Tự nhiên và Xã hội là chƣơng trình mở. Trên cơ sở bảo đảm yêu cầu cần đạt đối với mỗi lớp học, cấp học, giáo viên có thể lựa chọn đối tƣợng học tập sẵn có ở địa phƣơng để dạy học, thay đổi thứ tự các chủ đề học tập, đặt tiêu đề bài học trong mỗi chủ đề, xác định thời gian và điều chỉnh 12 thời lƣợng học tập cho mỗi chủ đề cho phù hợp với thực tế địa phƣơng, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trƣờng.
Chƣơng trình môn Tự nhiên và Xã hội xác định mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục môn học là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự phát triển năng lực và sự tiến bộ của học sinh trên cơ sở yêu cầu cần đạt đã đƣợc quy định ở mỗi lớp; từ đó, giúp giáo viên, học sinh điều chỉnh phƣơng pháp dạy, phƣơng pháp học để đạt đƣợc kết quả tốt hơn; đồng thời tăng động cơ và hứng thú học tập môn học cho học sinh.