CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy và học môn Hóa học trung học phổ thông 1. Quá trình dạy học Quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa thày và trò, là quá trình nhận thức của học sinh do giáo viên tổ chức, điều khiển nhằm chiếm lĩnh nội dung học vấn phổ thông. Nói cách khác, dạy học là quá trình nhận thức của học sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ của dạy học.
Chất lượng dạy học 1. Chất lượng giáo dục Chất lượng là những đặc tính khách quan của con người, sự vật, sự việc được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các thuộc tính. Chất lượng liên kết các thuộc tính của con người, sự vật, sự việc lại thành một tổng thể, bao quát toàn bộ con người, sự vật và không thể tách rời con người và sự vật đó. Trong giáo dục, chất lượng giáo dục không phải được biểu hiện qua việc người học đọc được bao nhiêu quyển sách, học được bao nhiêu kiến thức, làm được bao nhiêu bài tập,.
mà điều quan trọng nhất là thông qua quá trình giáo dục đó, người học thay đổi được những gì về mặt nhận thức, về động cơ học tập, thái độ và hành vi học tập; về nhân sinh quan, thế giới quan và lý tưởng sống và từ đó phát triển nhân cách bản thân mình như thế nào. Như vậy, chất lượng giáo dục sẽ được biểu hiện tập trung nhất ở nhân cách của người học - người được đào tạo, được giáo dục. Chất lượng dạy học Chất lượng dạy học là một bộ phận hợp thành quan trọng nhất của chất lượng giáo dục. Chất lượng dạy học được hiểu là chất lượng giảng dạy của người dạy và chất lượng học tập của người học xét cả về mặt định lượng và định tính so với các mục tiêu của môn học.
-5- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chất lượng dạy học được đánh giá thông qua giờ học hoặc thông qua một quá trình dạy học và chủ yếu được căn cứ vào kết quả giảng dạy học tập của giờ học hay quá trình học đó cả về mặt định lượng (khối lượng tri thức mà người học tiếp thu được) và cả về mặt định tính (mức độ sâu sắc, vững vàng của những trí thức mà người học lĩnh hội được). Trong hai yếu tố là chất lượng giảng dạy của người dạy và chất lượng học tập của người học thì chất lượng dạy học được biểu hiện tập trung nhất ở chất lượng học tập của người học. Người học là người quyết định chính đến chất lượng dạy học. Muốn nâng cao chất lượng dạy học thì đồng nghĩa với việc phải nâng cao chất lượng học tập của người học.
Lý luận dạy học hiện đại đã chỉ ra rằng: Người học trong quá trình đào tạo không chỉ là đối tượng của hoạt động dạy mà còn là chủ thể của hoạt động lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Trong các hình thức tổ chức học thì việc tự học có một vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học. Tự học của người học là khâu quan trọng không thể tách rời quá trình đào tạo ở nhà trường. Bồi dưỡng cho người học phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu và phương pháp tự học sẽ giúp người học phát triển những phẩm chất và năng lực hoạt động trí tuệ sáng tạo, chính là dạy phương pháp nhận thức để tìm ra trí thức.
Như vậy, năng lực tự học của người học vừa là yêu cầu vừa là điều kiện cho chất lượng đào tạo, chất lượng dạy học. Tổ chức được hoạt động tự học một cách khoa học, hợp lý và đạt hiệu quả cao là góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng dạy học. Đây không chỉ là trách nhiệm của người dạy mà quan trọng hơn là ý thức học tập của bản thân người học. Một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học Chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy và học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội dung và chương trình môn học ; hệ thống sách giáo khoa ; đổi mới phương pháp dạy học ; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình dạy và học,.
Trong bản luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến việc sử dụng bài toán hóa học, trong đó, chú trọng vào việc lựa chọn, phân loại và phương -6- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp giải bài toán hóa học, để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học THPT. Bài tập hóa học 1. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học Bài tập hóa học là một hệ thống các câu hỏi và bài toán về hóa học nhằm đạt được một hay nhiều những mục tiêu kiến thức cần đánh giá đối với học sinh. Việc dạy học không thể thiếu bài tập.
Sử dụng bài tập trong dạy học là một biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học. Bài tập hóa học có ý nghĩa, tác dụng về nhiều mặt. - Ý nghĩa trí dục: + Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học; củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng được các kiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc.
+ Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất. Rèn luyện các kĩ năng hóa học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học,. Nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh. + Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường; rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và các thao tác tư duy.
- Ý nghĩa phát triển: Phát triển ở học sinh các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo. - Ý nghĩa giáo dục: Rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học Hóa học. Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc). -7- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lựa chọn, phân loại bài tập hóa học Hiện nay, trong các sách tham khảo hóa học, số lượng câu hỏi và bài toán hóa học rất phong phú và đa dạng. Để phục vụ tốt cho việc dạy và học hóa học, chúng tôi lựa chọn các bài tập hóa học dựa vào những tiêu chí sau: - Bám sát nội dung chương trình, mục tiêu của môn học, bám sát nội dung sách giáo khoa hóa học THPT. - Có nội dung phong phú, đậm bản chất hóa học và có tính thực tế, tránh sự nặng nề lắt léo về mặt toán học. Bên cạnh những bài tập cơ bản, cần có những bài tập tổng hợp, sâu sắc phát triển trí thông minh sáng tạo, khơi dậy hứng thú học tập của học sinh.
Bên cạnh những bài tập có hướng dẫn giải cần phải có những bài tập tự luyện, giúp học sinh tự học, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh. Bên cạnh những bài tập tự luận là những bài tập trắc nghiệm,. Sau khi đã lựa chọn được các bài tập thì việc phân loại chúng có ý nghĩa quan trọng. Có nhiều cách phân loại bài tập tùy thuộc vào cơ sở phân loại.
Có thể dựa vào các cơ sở sau đây: - Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh khi giải bài tập có thể chia thành: bài tập lý thuyết và bài tập thực nghiệm. - Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành: bài tập định tính và bài tập định lượng. - Dựa vào nội dung có thể chia thành: bài tập nồng độ, bài tập điện phân, áp suất,. - Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài có thể chia thành: bài tập xác định công thức phân tử của chất ; tính thành phần phần trăm của hỗn hợp ; nhận biết ; tách chất ra khỏi hỗn hợp ; điều chế,.
- Dựa vào khối lượng kiến thức hay mức độ đơn giản, phức tạp, có thể chia thành: bài tập cơ bản và bài tập tổng hợp. - Dựa vào chức năng có thể chia thành: bài tập kiểm tra sự hiểu và nhớ ; bài tập đánh giá khả năng: vẽ sơ đồ, tìm tài liệu, tổng kết,. ; bài tập rèn luyện tư duy khoa học (phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch,. -8- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sử dụng cách phân loại bài tập theo mức độ nhận thức tư duy của học sinh.
Thang cấp độ nhận thức tư duy đã được nhiều tác giả nghiên cứu, thí dụ trên thế giới có Bloom, Lorin Anderson ,. ở Việt Nam, có GS Nguyễn Ngọc Quang,. Quan điểm của các nhà khoa học trên đã được trình bày cụ thể trong các tài liệu và trong nhiều luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học trước đây. Sau khi nghiên cứu các quan điểm trên, nhận thấy có nhiều điểm tương đồng và phù hợp với Việt Nam, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam đã chỉ đạo dạy học bám sát theo chuẩn kiến thức, kỹ năng theo các cấp độ: Nhận biết - Thông hiểu - Vận dụng (mức cơ bản) - Vận dụng sáng tạo (mức nâng cao).
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi áp dụng căn cứ phân loại trên để phân loại và xây dựng hệ thống các bài toán hóa học vô cơ - phần phi kim THPT. ■ Các bài tập dạng biết: Các bài tập ở dạng biết chỉ yêu cầu về năng lực nhận thức của học sinh là nhớ lại và nhắc lại những kiến thức đã học một cách máy móc. Tư duy của học sinh ở mức độ biết là tư duy cụ thể và kỹ năng tương ứng chỉ là kỹ năng bắt chước theo mẫu. ■ Các bài tập dạng hiểu: Các bài tập ở dạng hiểu yêu cầu học sinh có năng lực nhận thức là tái hiện kiến thức, diễn giải kiến thức, mô tả kiến thức.
Ở mức độ này, học sinh phải có tư duy logic, tương ứng với kỹ năng phát huy sáng kiến (làm không còn bắt chước máy móc). ■ Các bài tập dạng vận dụng: Ở các bài tập vận dụng, yêu cầu học sinh cần phải có là khả năng vận dụng kiến thức để xử lý tình huống khoa học cụ thể hay tình huống mới, tình huống trong đời sống thực tiễn.