mở đầu sẽ trình bày một số kiến thức nền tảng của RNAi và trình bày tổng quát về siRNA bao gồm chức năng, hoạt động, ứng dụng, hạn chế và các phương pháp giải quyết bài toán siRNA. Chƣơng 2: Các quy tắc thiết kế siRNA hiệu quả: Trình bày khái quát các phương pháp đã được các nhà khoa học thực nghiệm để giải quyết vấn đề của bài toán. Đó là tìm các quy tắc thiết kế siRNA hiệu quả trong cả hai cách tiếp cận sinh học và sinh học tính toán. Chƣơng 3: Phương pháp dự đoán khả năng ức chế gen của siRNA.
Chương này sẽ tập trung vào giới thiệu tổng quan về nghiên cứu xây dựng các mô hình dự báo và cách áp dụng các phương pháp học SVM và RF để dự đoán khả năng ức chế gen của siRNA. Đồng thời trình bày phương pháp học biểu diễn dữ liệu áp dụng cho phần thực nghiệm. Chƣơng 4: Thực nghiệm đánh giá. Đây là phần nêu lên kết quả đạt được trong suốt quá trình thực hiện, ngoài ra còn đề cập đến những khó khăn vấn đề vướng mắc phát sinh, sau đó là đánh giá những kết quả đạt được chi tiết ở từng bước thực hiện Chƣơng 5: Kết luận.
Tổng kết lại những nội dung chính của luận văn, đưa ra hướng đi và hướng áp dụng thực tế. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐOẠN NGẮN RNA CÓ KHẢ NĂNG ỨC CHẾ (siRNA) Phần đầu của chương này trình bày tổng quan về sự can thiệp RNA, phần thứ hai là thảo luận chi tiết về siRNA gồm lịch sử ra đời, cơ chế hoạt động, chức năng, ứng dụng của siRNA cũng như giải pháp giải quyết bài toán siRNA. Can thiệp RNA Can thiệp RNA (RNAi) là một hệ thống bên trong các tế bào sống, giúp kiểm soát các gen đang hoạt động đó là các đoạn ngắn RNA giúp tế bào ức chế sự biểu hiện của các gen có trình tự tương đồng với nó. Đây là hệ thống tự vệ của tế bào nhằm chống lại sự xâm nhập của siêu vi khuẩn, các phần tử di truyền ngoại lai khác, những yếu tố sử dụng chuỗi RNA xoắn kép trong chu kỳ sống của tế bào.
Các cơ chế, thành phần chính của RNAi RNAi chính là quá trình phân hủy mRNA. Các dsRNA (Double stranded RNA) mạch kép hoặc dạng kẹp tóc bị cắt thành các đoạn ngắn RNA (siRNA) bởi các enzyme ribonuclease III Dicer, họ protein được gọi là RNA- phức hệ gây sự im lặng (RISC) sẽ mang các siRNA bám vào mRNA đích có trình tự tương đồng với nó và phân hủy mRNA. Nên quá trình chuyển hóa mRNA thành protein hay lây nhiễm virut RNA sẽ bị ngăn chặn. RNAi xảy ra trong quá trình im lặng gen sau phiên mã (PTGS), quá trình RNAi được bảo toàn mạnh mẽ ở các sinh vật nhân chuẩn đóng vai trò bảo vệ chống lại virus và sự bất ổn về di truyền phát sinh từ yếu tố di truyền động (Transposons).
Công trình nghiên cứu về RNAi của hai nhà khoa học Z.Mello đã được công bố trên tạp chí Nature vào ngày 19/2/1998, kết quả của nghiên cứu này vô cùng quan trọng bởi chúng cung cấp lời giải thích cho các hiện tượng nghiên cứu ở thực vật được các nhà nghiên cứu trước đó gọi là “Đồng ức chế”. Khám phá của họ đã làm sáng tỏ nhiều quan sát thí nghiệm mâu thuẫn và khó hiểu trong nhiều năm trước đây, đồng thời tiết lộ một cơ chế tự nhiên để kiểm soát dòng thông tin di truyền trong tế bào, báo hiệu sự khởi đầu cho một lĩnh vực nghiên cứu mới. RNAi được sử dụng trong khoa học cơ bản nghiên cứu chức năng của gen. Ngoài ra, cơ chế này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc điều khiển các biểu hiện gen, tham gia bảo vệ cơ thể chống nhiễm virus và kiểm soát gen thay đổi đột ngột.
Với nghiên cứu mới này, giới khoa học cũng đang tìm ra các ứng dụng của RNAi trong những nghiên cứu y học chữa bệnh bằng liệu pháp gen, các ứng dụng trên cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm với chất lượng tốt hơn. Trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, các bệnh do virut, bệnh tim, ung thư, rối loạn nội tiết và nhiều chứng bệnh khác. Quá trình RNAi bao gồm các bước sau (Hình1.1), bước đầu tiên của RNAi đó là RNA sợi kép (dsRNA) bị cắt thành những đoạn ngắn (siRNA) bởi một endonuclease gọi là dicer sẽ tách dsRNA thành các siRNA 11 5‟ A) AUGGACUAGCAU… 3 ‟ RNA mạch đôi B) DICER DICER siRNA 19-25 nt RISC RISC mRNA AAAAA mRNA AAAAA Hình 1.1: Sơ đồ hoạt động của RNAi và siRNA Bước thứ 2, siRNA được mở ra thành hai sợi đơn ngắn đó là hai sợi sence và antisence. Sợi antisense ngắn (siRNA) được nạp vào phức hợp RISC và sợi antisense RNA trong phức hợp RISC bắt cặp với mRNA bằng liên kết tương đồng giữa các bazơ.
Tiếp theo RISC sẽ phân hủy mRNA tương đồng với nó. Các thành phần xúc tác mà tách hai sợi của siRNA được xác định là các protein thuộc họ Argonaut 2 (Ago2). Bằng cách phân tích cấu trúc tinh thể của Ago2, cho thấy Ago2 tương tự như RNase H, đó sẽ tách thành phần RNA của một DNA / RNA kép [34] Có ba thành phần chính liên quan đến quá trình can thiệp RNA: siRNA, enzyme Dicer, và phức hệ (RISC). Trong đó siRNA là một đoạn ngắn của dsRNA (RNA mạch kép) có kích thước khoảng 19 đến 25 nucleotit với gốc phosphoryl là đầu 5 ' đến 2 phân tử nucleotide ở đầu hydroxy 3' (Hình 1.
Dicer là một endoonuclease giống như RNase III sẽ cắt RNA sợi đôi thành các đoạn ngắn RNA (siRNA) và RISC là một phức hợp đa protein (muti-protein) có chứa enzyme helicase và một số protein, trong đó quan trọng nhất là protein thuộc họ Agronaut hoạt động như một endonuclease và có vai trò cắt mRNA. Vai trò của RNAi RNAi có nhiều chức năng quan trọng trong tế bào như: Bảo vệ tế bào chống lại gen ký sinh trùng, virus và các yếu tố di truyền vận động (Transposon). Điều hòa biểu hiện gen. Duy trì hình dạng nhiễm sắc thể và tăng cường phiên mã… 12 1.
Thành phần của RNAi RNAi gồm 2 thành phần siRNA và miRNA siRNA (small interfeing RNA, short interfering RNA) là các RNA ngắn có kích thước khoảng 19 đến 25 nucleotit, được hình thành từ các RNA sợi đôi, tham gia vào quá trình tổng hợp protein, siRNA có khả năng điều khiển protein họ Argomaute tới đích điều hòa. miRNA (micro RNA) là những đoạn RNA ngắn khoảng từ 19 đến 25 nucleotit, không tham gia vào quá trình tổng hợp protein. Nghiên cứu can thiệp RNA Can thiệp trong thực vật Ở thực vật sự ức chế của RNA (RNA silencing) được phát hiện khi thực hiện biến đổi gen trên cây dạ yến thảo với dự kiến là có màu tím hơn. Năm 1990 phòng thí nghiệm R.
Jorgensen muốn tăng cường hoạt động của gien tổng hợp chalcone synthase (chsA) một loại enzyme tham gia vào việc sản xuất sắc tố anthocyanin (Hình 1.2) họ đã thí nghiệm bằng cách chuyển gen quy định màu tím chalcone synthase dưới sự điều khiển của một promoter mạnh (promoter 35S), gen CHS là gen có liên quan đến chu trình hình thành chất anthocyanin trong hoa dạ yến thảo, tuy nhiên thay vì hình thành màu tím của cánh hoa như mong đợi thì chúng lại thể hiện các đốm màu khác nhau và thậm chí là màu trắng. Hiện tượng này các nhà khoa học đặt thuật ngữ là "cosuppresion" nghĩa là "đồng ức chế" bởi vì sự biểu hiện của gen ngoại sinh và gen nội sinh trong hoa dạ yến thảo đều bị ức chế như nhau. Thuật ngữ "đồng ức chế" là quá trình mô tả sự mất đi của các mRNA do gen nội sinh (gen có sẵn của tế bào) và gen ngoại sinh (gen được chuyển vào trong tế bào) phiên mã ra.2: Đồng ức chế của cây dạ yến thảo, cây bên trái là cây dại, bên phải là cây chứa biến đổi gen Trong khoảng thời gian này các phòng thí nghiệm khác [23] cũng cho thấy rằng việc chuyển gen ở dạng sense vào tế bào có thể làm giảm sự biểu hiện của gen nội sinh tương ứng. Sau đó nhiều trường hợp đồng ức chế tương tự đã được báo cáo trong các tài liệu khoa học.
Tất cả các trường hợp đồng ức chế đều dẫn đến sự thoái hoá của các phân tử RNA của gen nội sinh và gien ngoại sinh sau khi quá trình phiên mã ở nhân 13 xảy ra [27].Vì sự thoái hoá của RNA sau phiên mã được quan sát thấy ở một loạt các gien ở thực vật, vi khuẩn hoặc virut, nó được đặt tên lại là sự bất hoạt gien sau phiên mã [PTGS], PTGS không chỉ dưới tác động của gen được chuyển dạng sense mà còn cả antisense và những bằng chứng về mặt hoá học cho thấy các cơ chế tương tự nhau có thể đã xảy ra trong cả hai trường hợp [17]. Nó chỉ ra rằng mặc dù hiện tượng đồng ức chế ban đầu được quan sát ở thực vật nhưng nó không chỉ giới hạn ở thực vật mà còn xuất hiện ở động vật đa bào và động vật có vú. Cùng thời gian đó những biến đổi quan sát được ở các kiểu hình (motif) có liên quan tới PTGS được cho là do sự kết hợp ở nhiều vị trí, hình thành nên phân tử RNA dị thường, các cấu trúc được lặp đi lặp lại của gen được chuyển vào trong tế bào. Sau đó, người ta mới biết rõ rằng sự biểu hiện của gen được chuyển vào trong tế bào đã dẫn đến sự hình thành nên dsRNA và bắt đầu cho PTGS.
Các báo cáo từ một số phòng thí nghiệm trong vài năm qua đã cho thấy rằng sự mất đi khả năng tích tụ các mRNA đích là gần như hoàn toàn nếu gen được chuyển vào phiên mã ra các bản sao ở dạng mạch kép. Bằng chứng này cho thấy việc tạo ra dsRNA là cần thiết để khởi đầu PTGS ở thực vật, dựa vào điều này, thực vật mang gen chuyển có hoạt động phiên mã mạnh mẽ theo cả hai hướng tạo ra dạng sense và dạng antisense đã cho thấy những đặc tính PTGS mạnh mẽ. Những thực vật chuyển gen này có thể gây bất hoạt gien nội sinh, RNA virut có thể xâm nhập hoặc những gen lạ không mong muốn xuất hiện và đặc tính này có thể di truyền được. Nói chung, thành phần sense và antisense của các gen được chuyển vào tế bào nói trên chỉ khác nhau ở một DNA bên trong một gen nhưng không tham gia vào việc mã hoá protein (intron) để tăng cường tính hiệu quả của PTGS [8], [42].
Ví dụ, 2 loại cà chua Arabidopsis thaliana và Lycopersicon esculentum được biến nạp bởi một gien được thiết kế với mục đích tạo ra các bản sao iaaM và ipt có khả năng tự bổ sung.