Nguyễn thùy linh xây dựng phương pháp định lượng methanol rượu bậc cao furfural trong rượu trắng bằng gc fid khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Nguyễn Thùy Linh nghiên cứu phương pháp định lượng methanol, rượu bậc cao, furfural trong rượu trắng bằng GC-FID, ứng dụng trong khóa luận tốt nghiệp dược sĩ.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

65
7
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ

1. TỔNG QUAN VỀ RƯỢU TRẮNG

1.1. Phân loại rượu trắng

1.2. Các tạp chất có trong rượu trắng

1.3. Các phương pháp định lượng tạp chất methanol, rượu bậc cao (propanol, alcol amylic, alcohol isobutyl) và furfural bằng sắc ký khí (GC)

1.4. Tổng quan về phương pháp sắc ký khí (GC – Gas Chromatography)

1.4.1. Khái niệm và quy trình hoạt động của hệ thống sắc ký khí

1.4.2. Cấu tạo hệ thống sắc ký khí

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị

2.2. Đối tượng nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu

2.3. Xây dựng phương pháp phân tích

2.4. Thẩm định phương pháp phân tích

2.5. Ứng dụng phân tích mẫu thực tế

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.6.1. Chuẩn bị các dung dịch chuẩn

2.6.2. Lựa chọn phương pháp phân tích Methanol, rượu bậc cao (Propanol, Alcohol isobutyl, Alcol amylic) và Furfural. Thẩm định phương pháp

2.6.3. Áp dụng phương pháp đã xây dựng để kiểm tra các mẫu rượu trắng đang lưu hành trên thị trường

2.6.4. Xử lý kết quả

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Khảo sát điều kiện phân tích đồng thời Methanol, rượu bậc cao (Propanol, Alcohol isobutyl, Alcol amylic) và Furfural

3.1.1. Khảo sát chương trình nhiệt độ

3.1.2. Khảo sát chế độ chia dòng

3.1.3. Khảo sát chuẩn nội

3.2. Thẩm định phương pháp định lượng đồng thời MeOH, rượu bậc cao, furfural trong rượu trắng

3.2.1. Độ ổn định hệ thống

3.2.2. Tính đặc hiệu

3.2.3. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ)

3.2.4. Khoảng tuyến tính

3.2.5. Độ chính xác của phương pháp (độ đúng và độ chụm)

3.2.6. Độ không đảm bảo đo của phương pháp

4. ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẪU THỰC TẾ TRÊN THỊ TRƯỜNG

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Phương pháp định lượng methanol rượu bậc cao furfural trong rượu trắng bằng GC FID

Nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng phương pháp định lượng đồng thời methanol, rượu bậc cao (propanol, alcohol isobutyl, alcol amylic) và furfural trong rượu trắng bằng kỹ thuật GC-FID. Phương pháp này nhằm đảm bảo độ chính xác và hiệu quả trong việc phân tích các tạp chất độc hại có trong rượu. GC-FID được lựa chọn do khả năng tách và định lượng các chất với độ nhạy cao. Nghiên cứu cũng đề cập đến việc thẩm định phương pháp để đảm bảo tính ổn định và độ tin cậy.

1.1. Tổng quan về methanol và độc tính

Methanol là một chất độc hại, thường xuất hiện trong rượu trắng do quá trình sản xuất không đảm bảo. Khi vào cơ thể, methanol chuyển hóa thành các chất độc như formandehyd và acid formic, gây ngộ độc cấp tính và mãn tính. Triệu chứng ngộ độc bao gồm đau đầu, buồn nôn, và trong trường hợp nặng có thể dẫn đến mù lòa hoặc tử vong. Việc định lượng methanol trong rượu là cần thiết để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.

1.2. Rượu bậc cao và ảnh hưởng đến chất lượng rượu

Rượu bậc cao như propanol, alcohol isobutyl và alcol amylic không gây độc trực tiếp nhưng ảnh hưởng đến mùi vị và chất lượng của rượu trắng. Chúng thường xuất hiện trong quá trình lên men và chưng cất. Việc định lượng các chất này giúp kiểm soát chất lượng sản phẩm, đảm bảo rượu đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

II. Phương pháp sắc ký khí GC và ứng dụng

Sắc ký khí (GC) là phương pháp phân tích hóa học hiện đại, sử dụng pha động là khí trơ và pha tĩnh được chứa trong cột. Phương pháp này cho phép tách và định lượng các chất trong hỗn hợp phức tạp. Trong nghiên cứu này, GC-FID được sử dụng để phân tích đồng thời methanol, rượu bậc caofurfural. Quy trình bao gồm chuẩn bị mẫu, chọn điều kiện phân tích tối ưu và thẩm định phương pháp.

2.1. Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của GC FID

Hệ thống GC-FID bao gồm bộ phận tiêm mẫu, cột sắc ký và đầu dò ion hóa ngọn lửa (FID). Mẫu được tiêm vào hệ thống, sau đó các chất được tách trong cột dựa trên sự khác biệt về ái lực với pha tĩnh. FID phát hiện và định lượng các chất dựa trên tín hiệu ion hóa. Phương pháp này có độ nhạy cao và phù hợp để phân tích các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi.

2.2. Thẩm định phương pháp phân tích

Thẩm định phương pháp bao gồm đánh giá độ đặc hiệu, độ chính xác, độ lặp lại, giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ). Kết quả cho thấy phương pháp GC-FID đáp ứng các tiêu chuẩn phân tích, đảm bảo độ tin cậy và chính xác trong việc định lượng các tạp chất trong rượu trắng.

III. Ứng dụng thực tế và kết quả nghiên cứu

Phương pháp GC-FID đã được áp dụng để phân tích các mẫu rượu trắng đang lưu hành trên thị trường. Kết quả cho thấy sự hiện diện của methanol, rượu bậc caofurfural trong nhiều mẫu rượu, vượt quá giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam. Nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc kiểm soát chất lượng rượu để đảm bảo an toàn sức khỏe người tiêu dùng.

3.1. Kết quả phân tích mẫu thực tế

Các mẫu rượu trắng được thu thập từ thị trường và phân tích bằng phương pháp GC-FID. Kết quả cho thấy nhiều mẫu có hàm lượng methanol vượt quá giới hạn cho phép, tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự hiện diện của rượu bậc caofurfural, ảnh hưởng đến chất lượng và mùi vị của rượu.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp một phương pháp hiệu quả để kiểm soát chất lượng rượu trắng, đặc biệt là việc định lượng các tạp chất độc hại. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để cải thiện quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng rượu, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc gia.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của hiệp hội bia, rượu, nước giải khát Việt Nam (VBA), ở nước ta lượng rượu bất hợp pháp nằm ngoài sự quản lý của nhà nước chiếm tới 63% tổng khối lượng lít cồn nguyên chất được tiêu thụ tại Việt Nam, lượng rượu được quản lý bởi cơ quan chức năng chỉ chiếm 37%. Không chỉ tại Việt Nam, khu vực ASEAN cũng được dự báo rằng vào năm 2025, lượng rượu bia không được quản lý sẽ tăng cao. Tại Việt Nam, rượu tự nấu được ưa chuộng hàng đầu vì giá thành rẻ và dễ mua. Việc sản xuất rượu thủ công của các hộ gia đình không đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.

Người dân không có đầy đủ kiến thức về các chất độc và cách loại bỏ tạp chất có trong rượu, nhiều khi còn trộn thêm cồn công nghiệp (methanol) để tăng dung tích và giảm chi phí. Việc quản lý rượu thủ công còn lỏng lẻo làm nguy cơ gây ngộ độc rượu tăng cao. Ngoài rượu thủ công, nhiều cơ sở và doanh nghiệp cố tình sản xuất rượu giả, rượu nhái để thu lợi nhuận cao. Sau khi sử dụng cồn công nghiệp không qua xử lý độc tố để pha với nước thành rượu, các doanh nghiệp làm rượu giả đã sử dụng nhiều biện pháp để làm giả bao bì, hình thức để qua mắt cơ quan chức năng và người tiêu dùng.

Một trong những biện pháp làm giả rượu là lấy chai rỗng sau khi sử dụng của các rượu ngoại để đánh vào tâm lý sính ngoại của người dân vì ruột rượu bị làm giả khó có thể phát hiện bằng mắt thường. Rượu thủ công và rượu giả hiện nay được bày bán tự do ở nhiều tiệm tạp hóa, các cơ sở buôn bán nhỏ lẻ mà không có sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Vài năm gần đây, tình trạng ngộ độc rượu ngày càng trở nên nghiêm trọng. Ngày 9/11/2022, tại bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang có 5 bệnh nhân nhập viện cấp cứu vì ngộ độc methanol, trong 5 bệnh nhân có 2 người tử vong.

Ngày 13/2/2023, tại Nghệ An có 5 người phải nhập viện cấp cứu sau khi uống rượu. Ngày 28/4/2023, tại Cà Mau có 8 người nhập viện vì ngộ độc rượu methanol, trong 8 bệnh nhân có 1 người tử vong. Theo thống kê của Cục An toàn thực phẩm-Bộ y tế, 10 năm qua, trên toàn quốc có 500 người bị ngộ độc do sử dụng rượu không đảm bảo chất lượng, trong đó có hơn 100 ca tử vong. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Xây dựng phương pháp định lượng methanol, rượu bậc cao và furfural trong rượu trắng bằng GC-FID” với 2 mục tiêu: - Xây dựng và thẩm định phương pháp định lượng methanol, rượu bậc cao và furfural trong rượu trắng bằng GC-FID.

- Áp dụng phương pháp đã được thẩm định để kiểm tra 1 số mẫu rượu trắng đang lưu hành trên thị trường. Tổng quan về rượu trắng 1. Phân loại rượu trắng Rượu trắng được chia làm 2 loại: - Rượu trắng chưng cất (white distilled spirit): đồ uống có cồn được chưng cất từ dịch lên men có nguồn gốc tinh bột hoặc các loại đường. - Rượu trắng pha chế (white blended spirit): đồ uống có cồn được pha chế từ nước, cồn thực phẩm và phụ gia thực phẩm [2].

Các tạp chất có trong rượu trắng Trong rượu trắng, tồn tại các nhóm tạp chất: - Nhóm carbonyl: Aldehyd béo là thành phần carbonyl chủ yếu (trong đó acetadehyd thường chiếm hơn 90% tổng lượng aldehyd). Nhóm chất này được chưng với nước và rượu một cách dễ dàng nên nó được tìm thấy trong tất cả các loại rượu trắng [7], [14]. Ngoài ra, trong rượu trắng còn có các thành phần carbonyl khác như: aldehyd không no, aldehyd thơm, cetone béo, monocetone không no,…. Acid decanoic, acid octanoic và acid doecanoic cũng được tìm thấy trong rượu.

Các acid này được tạo thành chủ yếu từ nấm men trong quá trình nên men [14]. - Alcol: thành phần nhóm alcol trong rượu trắng gồm có methanol và rượu bậc cao [14]. Các rượu bậc cao được tìm thấy trong rượu bao gồm: Propanol, alcohol isobutyl, alcol amylic … - Este : Dưới tác dụng của enzym esteraza của nấm men, các alcol và acid hình thành trong quá trình lên men và chưng cất kết hợp với nhau để tạo ra este. Loại este chủ yếu trong rượu trắng là etyl acetat [7].

Giới hạn tạp chất trong rượu trắng được quy định theo tiêu chuẩn Việt Nam và được trình bày tại bảng 1. Trong bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích các tạp chất Methanol, rượu bậc cao (propanol, alcol amylic, alcohol isobutyl) và furfural trong rượu trắng.1: Tiêu chuẩn về giới hạn hàm lượng các tạp chất trong rượu trắng được quy định trong TCVN 7043:2013 [2] Mức giới hạn Tên chỉ tiêu Rượu trắng chưng Rượu trắng pha chế cất Hàm lượng ethanol, % thể tích ở 20 oC Tự công cố Tự công bố Hàm lượng methanol, mg/L ethanol 100o Không lớn hơn 2000 Không lớn hơn 100 Hàm lượng rượu bậc cao, tính theo metyl-2 - Không lớn hơn 5 Propanol-1, mg/L ethanol 100o Hàm lượng aldehyd, tính theo Tự công bố Không lớn hơn 5 acetaldehyd, mg/L ethanol 100o Hàm lượng este, tính theo etyl acetat, - Không lớn hơn 13 mg/L ethanol 100o Hàm lượng Furfural Không có Không có 1. Tổng quan về Methanol Methanol là một loại cồn độc hại. Methanol ít phổ biến hơn ethanol, được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp làm dung môi, trong sản xuất formadehyd và các chất methyl hóa và làm hóa chất trong các phòng thí nghiệm [12].

Methanol cũng tồn tại trong tự nhiên ở người, động vật và thực vật. Nguồn cung cấp methanol chính cho con người là từ các loại thực phẩm như rau quả tươi, đồ uống lên men, nước ép trái cây… Hầu hết các vụ ngộ độc methanol có nguyên nhân từ việc tiếp xúc với không khí có nhiều hơi methanol hoặc uống nhầm hay dùng loại rượu có chứa nhiều tạp chất là methanol [6].  Công thức cấu tạo Hình 1.1: Cấu trúc phân tử của Methanol - Danh pháp IUPAC: Methanol - Tên khoa học: Alcol methylic - Công thức phân tử: CH3OH - Khối lượng phân tử: 32,04 đvC [5]  Tính chất vật lý - Methanol là chất lỏng, không màu, dễ bắt lửa. Trộn lẫn được với nước và ethanol - Tỉ trọng ở 20oC: 0,791 đến 0,793 - Điểm sôi: 64oC đến 65oC [5] 3 - Methanol có mùi nhẹ nên khó phát hiện trong các chất lỏng hỗn hợp [12]  Độc tính của Methanol và cơ chế gây độc Liều gây độc ở người đã được báo cáo nằm trong khoảng 30-240 mL.

Khi đi vào cơ thể qua đường tiêu hóa, Methanol được hấp thu nhanh chóng (cũng như khi đi qua da và phổi [12]. Bản thân methanol có độc tính thấp nhưng khi đi vào cơ thể nó được chuyển hóa thành các chất có độc tính cao (formandehyd và acid formic) và tích tụ trong loài linh trưởng do lượng acid folic hạn chế của loài này [16]. Format được chứng minh là nguyên nhân gây độc tính đối với mắt của các loài linh trưởng [12], [15], [16], [17], [21]. Trong giai đoạn đầu ngộ độc Methanol, các tác động có hại xảy ra do sự tích tụ acid formic dẫn tới nhiễm toan chuyển hóa.

Sau đó, nồng độ format tăng lên, ức chế chuỗi hô hấp tế bào dẫn đến sản xuất lactat làm tình trạng nhiễm toan tăng lên nghiêm trọng [12].  Triệu chứng ngộ độc methanol Thường xuất hiện muộn (12-24h) do quá trình chuyển hóa trên cần thời gian để diễn ra trong cơ thể. Trước khi có các triệu chứng cụ thể, dấu hiệu duy nhất dùng để nhận biết là tình trạng say nhẹ như say rượu ethanol [16]. Các triệu chứng cụ thể của ngộ độc methanol là: - Ngộ độc cấp tính: chóng mặt, nhức đầu, buồn ngủ.

Sau đó, bệnh nhân có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa: nôn (có thể nôn ra máu), đau bụng, tiêu chảy và các triệu chứng khác như: hạ huyết áp, mặt và môi tím xám, đồng tử giãn, khó thở, phù phổi. - Ngộ độc mạn tính: bao gồm các rối loạn về tiêu hóa và các rối loạn về thị giác như: teo thần kinh thị giác, giảm thị lực có thể dẫn đến mù lòa vĩnh viễn [6], [15], [17], [22], [18]. Tổng quan về rượu bậc cao (Propanol, alcol amylic, alcohol isobutyl) Trong quá trình lên men rượu, một trong các sản phẩm phụ được tạo thành là các rượu có số lượng carbon lớn hơn 2 (gọi chung là rượu bậc cao).  Công thức cấu tạo của Propanol Hình 1.2: Cấu trúc phân tử của Propanol - Danh pháp IUPAC: Propan-1-ol - Tên khoa học: Propan-1-ol, n-Propyl alcol 4 - Công thức phân tử: C3H8O - Khối lượng phân tử: 60,1 đvC [5]  Tính chất vật lý của Propanol - Propanol là chất lỏng, không màu - Tỉ trọng ở 20oC: 0,802 đến 0,806 - Lượng cất được khoảng từ 96oC đến 99oC không được nhỏ hơn 95% [5].

 Công thức cấu tạo của Alcol amylic Hình 1.3: Cấu trúc phân tử của Alcol amylic - Danh pháp IUPAC: Pentan-1-ol - Tên khoa học: Alcol isoamylic, 3-methylbutan-1-ol - Công thức phân tử: C5H12O - Khối lượng phân tử: 88,15 đvC [5]  Tính chất vật lý của Alcol amylic - Alcol amylic là chất lỏng, không màu. - Khối lượng riêng: khoảng 0,81 g/mL - Nhiệt độ sôi: Khoảng 130oC [5]  Công thức cấu tạo của Alcohol isobutyl Hình 1.4: Cấu trúc phân tử của Alcohol isobutyl - Danh pháp IUPAC: 2-methylpropan-1-ol - Tên gọi khác: Isobutanol, Isoptopyl carbinol, Alcohol isobutyl - Công thức phân tử: C4H10O - Khối lương phân tử: 74,12 ĐvC [10]  Tính chất vật lý Alcohol isobutyl - Nhiệt độ sôi: 99,58oC - Điểm nóng chảy: 74,01oC - Khối lượng riêng: 0,803 [10]  Tác động của rượu bậc cao tới rượu trắng Các rượu bậc cao trong đó có: Propanol, Alcohol isobutyl, Alcol amylic không 5 gây độc cho gen, không gây độc khi sử dụng liều lặp lại trong thời gian dài, không có độc tính đối với sự phát triển và sinh sản, không mẫn cảm với da, không có độc tính hô hấp cục bộ [10], [11], [9]. Rượu bậc cao chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng nếu lẫn vào trong rượu trắng sẽ gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng sản phẩm, gây ra mùi hôi khó chịu [7]. Tổng quan về furfural Furfural được sử dụng làm dung môi và nguyên liệu thô trong sản xuất nhựa PFF và trong các xưởng đúc để làm khuôn đúc kim loại.

Ở người furfural chuyển hóa thành axid furoic và được thải qua đường nước tiểu [12].  Công thức cấu tạo của furfural Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phương pháp định lượng methanol, rượu bậc cao, furfural trong rượu trắng bằng GC-FID | Nguyễn Thùy Linh" cung cấp một hướng dẫn chi tiết về việc sử dụng kỹ thuật sắc ký khí kết hợp với đầu dò ion hóa ngọn lửa (GC-FID) để định lượng các hợp chất như methanol, rượu bậc cao và furfural trong rượu trắng. Phương pháp này không chỉ đảm bảo độ chính xác cao mà còn giúp kiểm soát chất lượng rượu một cách hiệu quả, đặc biệt trong việc phát hiện các chất có hại cho sức khỏe. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà sản xuất và cơ quan quản lý chất lượng thực phẩm.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp phân tích hóa học, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học phát triển phương pháp phân tích xác định đồng thời esomeprazole và naproxen trong thuốc bằng phương pháp HPLC-UV, nơi trình bày chi tiết về ứng dụng của HPLC trong phân tích dược phẩm. Ngoài ra, bài viết Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng mangiferin trong cây tri mẫu bằng phương pháp HPLC cũng là một nguồn tham khảo tuyệt vời để hiểu rõ hơn về quy trình định lượng các hợp chất tự nhiên. Cuối cùng, Đinh Minh Nhật xác định ethylene glycol và diethylene glycol trong thực phẩm bằng kĩ thuật sắc ký lỏng khối phổ sẽ cung cấp thêm góc nhìn về ứng dụng sắc ký trong kiểm soát chất lượng thực phẩm.