CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ DẠY VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HOÁ Nghị luận là thể văn chiếm ưu thế cả về thời lượng lẫn nội dung DH viết bởi phạm vi ứng dụng đa dạng của nó. Ở nhà trường PT, văn nghị luận được dạy từ bậc THCS với hai kiểu bài cơ bản là nghị luận văn học (NLVH) và NLXH. Trong đó, DH viết văn NLXH là hoạt động trực tiếp hình thành khả năng bày tỏ QĐ, thái độ của HS trước hiện thực đời sống. Do vậy, hoạt động DH viết văn NLXH đóng vai trò rất quan trọng.
Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy NC về QT DH viết văn NLXH hiện nay chưa nhiều và chưa có công trình nào NC về việc DH viết văn NLXH theo QĐ DHPH. Vì thế, phần tổng quan dưới đây chủ yếu tổng hợp lại hai hướng NC chính liên quan đến việc DH viết văn NLXH cho HS THPT theo QĐ DHPH có trong các NC trong và ngoài nước, bao gồm: những NC về văn nghị luận và dạy viết văn nghị luận trong nhà trường PT; những NC về QĐ DHPH và thực hiện DHPH trong các môn học. Qua đó, phần tổng quan của luận án góp thêm một tiếng nói nhấn mạnh giá trị của việc DH viết văn nghị luận nói chung và văn NLXH nói riêng, cũng như hiệu quả của việc DH theo QĐ DHPH. Nghiên cứu về văn nghị luận và việc dạy viết văn nghị luận trong nhà trường phổ thông 1.
Nghiên cứu về văn nghị luận 1. Ở nước ngoài Thứ nhất, khi bàn về nguồn gốc của VB nghị luận, các nhà NC đều thống nhất rằng: ở phương Tây, trước khi “nghị luận” được đưa vào DH ở trường học với tư cách là một kiểu VB (argumentative text type) thì nó đã tồn tại với tư cách là một “lập luận” (argument). Từ thời cổ đại, lập luận đã được đề cao như một nhân tố không thể thiếu của “nghệ thuật lời nói” và trở thành một phương tiện hữu ích để con người trao đổi các ý kiến với nhau. Hiểu một cách đơn giản, lập luận là một QĐ được củng cố và chứng minh bằng lí lẽ và dẫn chứng.
Nhờ có lập luận, các học giả, doanh nhân, nhà khoa học và các chuyên gia,… có thể đưa ra những nhận định/QĐ của bản thân và chúng có giá trị thuyết phục người khác tin hoặc hành động theo nhận định/QĐ ấy; vì vậy không có gì ngạc nhiên khi lập luận trở thành đối tượng NC của nhiều ngành khoa học như hùng biện học (rhetorical), logic học (logics), ngôn ngữ học (linguistic) và được khuyến khích dạy cho HS như là cách hữu hiệu nhất để rèn luyện và phát triển tư duy. Mô hình lập luận sơ khai nhất được cho là của Aristole bao gồm hai thành tố: luận điểm (position) và lí lẽ để củng cố cho luận điểm ấy (justification). Sau đó, mô hình này phát triển thành loại lập luận cổ điển (classical argument) với sáu yếu tố: giới thiệu (introduction), tiền đề (statement of background), luận điểm (proposition), bằng chứng (proof), phản luận (refutation), kết luận (conclusion). Đến những năm 1950, mô hình của Toulmin ra đời đã bổ sung thêm một cách hiểu về lập luận, bao gồm các yếu tố: tuyên bố (claim), dữ liệu (data), biện minh (warrant), trợ giúp cho biện minh (backing of warrant), phản bác (rebuttal), hạn định tuyên bố (qualifier) và nó được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống.
Đây cũng là cơ sở để hình thành nên cấu trúc của kiểu VB nghị luận được dạy phổ biến trong trường học ngày nay [4]. Thứ hai, nhiều nhà NC cố gắng đưa ra định nghĩa về văn nghị luận (argumentative text type) và cách hiểu của họ gần giống nhau. Đó là kiểu VB phản ánh tư duy, QĐ, thái độ của người viết (nói) trước một chủ đề nhằm thuyết phục hoặc tác động đến người đọc (nghe) để họ thừa nhận QĐ ấy (Toulmin, 1958; Beaugrande và Dressler, 1981). Cụ thể hơn, Beaugrande và Dressler (1981) phát biểu về văn nghị luận như sau: “Văn nghị luận là kiểu văn tác động đến nhận thức và niềm tin của người khác trước một vấn đề có giá trị đúng hoặc sai, tích cực hoặc tiêu cực,…” [5; tr.
Theo đó, họ khẳng định mục đích chính của văn nghị luận là làm cho độc giả tin rằng QĐ của tác giả hoàn toàn đúng đắn, còn mọi ý kiến đối lập khác đều sai. Quan niệm này có lẽ hơi cực đoan nhưng nó phản ánh đặc điểm “tính thuyết phục” của văn nghị luận. Tương tự, Hatim (1990) đưa ra nhận định: nghị luận là một hoạt động gây ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của người khác, thậm chí là kích động hoặc phản ứng ngược. Do đó, đặc điểm nổi bật của văn nghị luận là: tính kiến nghị, tính đa cảm xúc, tính hợp lí [6, tr.
Eemeren (1986) cũng cho rằng: “văn nghị luận thuyết phục người đọc bằng luận điểm đanh thép, đi kèm theo là hệ thống dẫn chứng có giá trị và được thừa nhận, từ đó định hình hành vi cho người đọc” [7; tr. Như vậy, có thể thấy, bản chất của văn nghị luận là dùng các lí lẽ (reasons) để ủng hộ (support) hoặc phản đối (oppose) trước một vấn đề/ QĐ/ tư tưởng nào đó nhằm đi đến mục đích cuối cùng là thuyết phục (persuasive) người khác (Crystal và Davy, 1969) [8]. Nói như George Hillocks, Jr. (2011) thì: “Nghị luận không đơn giản là một cuộc tranh cãi như kiểu người này không đồng ý với người kia hoặc là to tiếng với nhau trong mỗi lượt lời của người nói, mà nghị luận là đưa ra các chứng cứ để bảo vệ cho một QĐ trong các công việc hàng ngày, trong khoa học hoặc thậm chí là trong phòng xử án” [9; tr.
Vì thế, một bài nghị luận được cho là tốt khi và chỉ khi nó đảm bảo nguyên tắc cơ bản: thuyết phục độc giả bằng những lập luận chặt chẽ thông qua hệ thống dẫn chứng có tính xác thực, tính logic và thống nhất với QĐ, lập trường của người tạo lập (Tickoo, 2007) [10; tr. Thứ ba, việc phân loại văn nghị luận trong nhiều công trình NC có những nét tương đồng, đó là: không có khái niệm “văn NLXH” mà chỉ có khái niệm “văn nghị luận” (argumentative text type) và được phân chia theo mục đích nghị luận thành các kiểu bài. Cụ thể: bài nghị luận thuyết phục (Persuasive Essays), bài báo NC (Research Paper), bài luận nêu QĐ cá nhân (Personal Essays), bài luận phân tích (Analysis Essays). Mỗi kiểu bài có đặc điểm khác nhau và được nêu chi tiết trong bảng 1.
Đặc điểm của các kiểu bài nghị luận Bài nghị luận Bài báo NC Bài luận nêu QĐ Bài luận phân thuyết phục (Research cá nhân tích (Analysis (Persuasive Paper) (Personal Essays) Essays) Essays) Là kiểu bài trình Là kiểu bài đưa ra Là kiểu bài đưa ra Là kiểu bài đưa ra bày một lập luận một lập luận lập luận dựa trên lập luận, QĐ và và cố gắng thuyết chính và sử dụng QĐ, sở thích và ĐG riêng của phục người đọc các bằng chứng trải nghiệm của cá người viết về nội đồng ý và tin rằng đã được nghiên nhân người viết. dung được đề cập Khái niệm lập luận này đúng. cứu từ các nguồn đến trong các tác khác nhau để phẩm của những củng cố cho lập tác giả khác dựa luận ấy. trên sự phân tích các nội dung ấy.
- Người viết đưa - Người viết có - Lập luận do - Người viết tiến ra lập luận và sử thái độ khách người viết đưa ra hành phân tích và dụng các chứng quan, công bằng có tính chủ quan. đánh giá tác phẩm cứ để củng cố cho khi tiếp cận các ý - Người viết có của tác giả khác lập luận một cách kiến xoay quanh thể sử dụng các thông qua các lập xuyên suốt. vấn đề được đặt ra KQ của những luận mà tác giả đó - Với các QĐ trong lập luận NC khác để làm trình bày. khác của vấn đề chính.
bằng chứng hỗ trợ - Phải bày tỏ QĐ Đặc điểm đang được nghị - Kết luận của bài cho lập luận, QĐ của bản thân trước luận, người viết báo NC phải có của mình thêm giá trị nội dung và cần bác bỏ chúng tính cụ thể, riêng hấp dẫn. nghệ thuật của tác để người đọc tin biệt, dựa trên các phẩm được phân rằng QĐ của trích dẫn từ những tích. người viết là công trình đã đúng. được NC trước đó.
Tương tự, chương trình Ngữ văn lớp 6 của Bang California – Mĩ cũng chia loại văn này thành các kiểu bài: bài nghị luận nêu QĐ (Opinion Statement at a Glance), bài nghị luận nguyên nhân – KQ (Cause-and-Effect Essay at a Glance), bài nghị luận giải quyết vấn đề (Problem – Solution Essay at a Glance), bài nghị luận so sánh – đối chiếu (Comparison-and-Contrast Essay at a Glance), bài nghị luận thuyết phục (Persuasive Essay at a Glance) (Dẫn theo [13]). Có thể thấy, kiểu bài nghị luận được chia theo mục đích nghị luận đã thể hiện tính thực tế và khả năng ứng dụng của thể loại văn này trong mọi lĩnh vực của đời sống. Nghị luận là trái tim của kĩ năng tư duy phản biện, học về nghị luận sẽ giúp con người có thêm sự sắc bén trong nhận thức và tạo tiền đề để hình thành NL tư duy độc lập trong QT lao động sản xuất. Do đó, không quá lời khi cho rằng văn nghị luận là một công cụ, một “vũ khí” thiết yếu mà mỗi HS cần phải trang bị nếu muốn chinh phục các đỉnh cao của kho tàng tri thức nhân loại.
Ở Việt Nam Thứ nhất, về định nghĩa của văn nghị luận, từ thời phong kiến, Phan Kế Bính trong cuốn “Việt Hán văn khảo” đã đưa ra nhận định về bài văn nghị luận như sau: “Nghị luận là bàn luận về việc gì, tuỳ ý mình muốn khen muốn chê thế nào mặc lòng, quý hồ nói cho phải lẽ là được” [14; tr. Theo định nghĩa này, người viết bài nghị luận được tự do bày tỏ QĐ, miễn sao QĐ ấy được lập luận một cách hợp lí.