CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lý thuyết kiến tạo 1. Cơ sở tâm lý học của lý thuyết kiến tạo a.
Cơ sở tâm lý học Piaget Tư tưởng về Thuyết kiến tạo vốn có từ tư tưởng hoài nghi và ngụy biện thời Hi Lạp cổ đại và từ thuyết học tập của Bruney với quan niệm người học tạo nên kiến thức một cách tích cực bằng cách tạo lập một giản đồ (diagram) kết nối các kinh nghiệm với nhau giữa những gì đã biết và cái vừa lĩnh hội được. Thuyết kiến tạo ra đời chính thức từ cuối thế kỉ XVIII với câu nói có ý nghĩa về nhận thức của con người của nhà triết học Battista Vico: “Con người chỉ có thể hiểu một cách rõ ràng những gì mà người học tự xây dựng nên cho mình”. Vico đã thách thức nguy cơ bá quyền đang manh nha trong ngành khoa học tự nhiên đầu thế kỉ XVIII và tồn tại tới nay trong tư tưởng của Richard Rorty [36]. Ngược lại tư tưởng kiến tạo xã hội, nói đúng hơn là kiến tạo tri thức xã hội lại cũng có tham vọng “bành trướng” sang cả khoa học tự nhiên.
Tư tưởng kiến tạo xã hội muốn bác bỏ bất kì hình thức bất biến của tri thức có trong lịch sử, dù đó là tri thức nào. Họ cho rằng tri thức có sẵn là võ đoán cần thay thế. Mọi tri thức đều có bản chất xã hội. Với họ, nghiên cứu xã hội học có thể được áp dụng với mọi đối tượng và giải thích bất cứ điều gì.
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, trường phái kiến tạo luận có thêm sự cổ vũ của cấu trúc luận, lí thuyết diễn ngôn và lí luận văn học với những tên tuổi mới như Foucault, Pratt, Derrida, Lyotard coi đặc điểm xã hội như một dạng văn bản, một diễn ngôn, hay như cách hiểu của Lyotard chính là trò chơi ngôn ngữ. Từ đó mà có sự kiện phản đối và mỉa mai những kết luận như đinh đóng cột của các nhà lí luận văn học hậu hiện đại như Derrrida, Lacan, 10 Deleuze rằng: các định luật khoa học tự nhiên được phát hiện bởi các nhà khoa học chỉ là những kết cấu mang tính xã hội và văn hóa [36]. Chính Dewey đã từng tổng kết rằng năng lực của học sinh (HS) sẽ được điều chỉnh bởi những đòi hỏi từ nhu cầu của bản thân và cộng đồng xã hội. Giáo viên (GV) là người truyền cảm hứng và trở thành đối tác phục vụ cho việc tìm ra tri thức và kiểm tra, xác nhận sự đúng đắn của tri thức.
Những tổng kết của Dewey rất gần gũi với nhu cầu hoạt động và nhận thức tự thân của người học trong thuyết kiến tạo. Sau đó, Piaget và Vưgotsky đã xây dựng một cách khá hoàn chỉnh Lí thuyết kiến tạo mang trường phái riêng, thuộc lĩnh vực tâm lí học. Piaget là người đặt nền móng cho tâm lí học phát triển trí tuệ, trong đó nổi bật nhất là vấn đề nhận thức. “Ông cho rằng cấu trúc nhận thức không có tính di truyền bẩm sinh mà là quá trình nhận thức của con người được phát triển trong lịch sử nhân loại.
Sự phát triển trí tuệ ấy được mặc định bởi hai quá trình tương hỗ cho nhau mà ông gọi là sự đồng hóa làm cho cái khác giống hay phù hợp với bản thân về quan niệm và mục đích nhận thức” [20]. Đồng hóa là “quy trình chủ thể tiếp thu thông tin mới của đối tượng hiện thực mà bản thân chưa hiểu biết thành của mình với sự trợ giúp về tri thức và kĩ năng đã có để xử lí thông tin đó nhằm bổ sung tri thức mới bằng phương thức tư duy đã từng sử dụng” [20, tr.12] Điều ứng là “quá trình chủ thể thích nghi với yêu cầu của môi trường học tập và xã hội hiện tại mà con người cần biến đổi nhận thức của mình khi nhận ra hiểu biết hiện thời của mình là chưa đầy đủ” [21, tr. Cơ sở tâm lý học Vưgốtxky Để giải quyết sự mất cân bằng trong lí thuyết của J. Piaget, nhà bác học Nga Vưgốtxky đưa ra cách giải quyết sự mâu thuẫn giữa kinh nghiệm học và sự tiếp thu, phát triển tri thức mới bằng xử lí mối quan hệ giữa trình độ tri thức hiện tại với vùng phát triển vùng gần nhất.
11 Vưgốtxky là người có những đóng góp mới cho tâm lí học nhận thức. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng, Vưgốtxky đã nghiên cứu tâm lí học phát triển với cách tiếp cận đa hướng mang tính xây dựng, tạo tác tri thức như là kết quả hoạt động nhận thức và tư duy. Cái nổi bật của Vưgốtxky là phát hiện và quan tâm đặc biệt đến vùng phát triển gần nhất. Khái niệm khoa học này chứa rất nhiều dự cảm mới mẻ về dạy học đi trước sự phá triển nhưng vẫn chừng mực về khối lượng tri thức và mức độ khoa học, HS có thể “tiêu hóa” mà vẫn không lạc hậu lỗi thời và vô dụng [24].
Kế thừa những thành tựu phát triển trí tuệ thông qua hoạt động nhận thức và tư duy theo hai nguyên lí được bổ sung cho nhau của J. Piaget và của Vưgốtxky, các nhà nghiên cứu khác như Glasserfeld và Ernest đã chia thuyết kiến tạo thành hai dạng thức: Kiến tạo cơ bản (Radical constructivism) và kiến tạo xã hội (Social constructivism). Như vậy, dạy học phải đi trước quá trình phát triển nhận thức của học sinh, tạo ra những mâu thuẫn, khó khăn chướng ngại trong quá trình nhận thức trong vùng phát triển gần nhất. Ngoài ra, việc học chỉ được thực hiện trong môi trường học tập và bằng hoạt động học tập của chính chủ thể người học.
Cơ sở triết học của lý thuyết kiến tạo Phép biện chứng duy vật là cơ sở phương pháp luận cho mọi lĩnh vực khoa học, trong đó có phương pháp dạy học môn Toán. Nó quyết định những quan điểm xuất phát, chiến lược nghiên cứu, quyết định việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu và lựa chọn kết quả [30, tr. Những tư tưởng cơ bản của phương pháp duy vật biện chứng cần được thể hiện trong nghiên cứu phương pháp dạy học môn Toán là: - Toán học được phát triển trên cơ sở tiếp nhận quan điểm duy vật biện chứng giữa hàm, số học, định lý, khái niệm. - Các vấn đề số học được xem xét giữa các mối quan hệ biện chứng, sự phát triển về lượng dẫn đến sự phát triển về chất.
12 Như vậy, quan điểm của triết học góp phần vào phát triển quan điểm của dạy học theo thuyết kiến tạo. Mối liên hệ của triết học với dạy học theo thuyết kiến tạo được thể hiện ở điểm GV cần tăng cường tích lũy kiến thức từ kiến thức chuyển hóa thành kĩ năng và thái độ đối với môn Toán. Trước hết HS cần hiểu, đến vận dụng. Vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học 1.
Khái niệm Theo Mebrien và Brandt (1997) thì: “Kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: Tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được ghi nhận từ người khác” [40, tr. Brooks (1993) thì: “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng HS cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mơi vào trong những cái mà họ đã có trước đó. HS thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng…” [40, tr. Briner đã viết: “Người học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đã tồn tại trong trí óc” [36, tr.
Theo từ điển Tiếng Việt, kiến tạo là xây dựng nên một cái gì đó [27, tr. Vận dụng vào quá trình dạy học, Mebrien và Brandt (1997) cho rằng: “Kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: Tri thức được kiến tạo bởi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận được từ người khác” [25, tr. Điều này cũng phù hợp với quan điểm của người Trung Quốc xưa “tôi nghe – tôi quên; tôi nhìn – tôi nhớ; tôi làm – tôi hiểu”. 13 Nhấn mạnh đến cách thức thu nhận kiến thức của người học, M.
Briner đã viết: “Người học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng và tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong trí óc” [32, tr. Như vậy “ Dạy học kiến tạo chỉ hoạt động của GV tác động lên một đối tượng, hiện tượng, quan hệ nhằm mục đích hiểu chúng và sử dụng chúng như những công cụ kí hiệu để xây dựng nên các đối tượng, các hiện tượng, các quan hệ mới hơn” Có nhiều quan niệm khác nhau về dạy học theo quan điểm kiến tạo, tuy nhiên, đứng trên quan điểm dạy học môn Toán cần nhấn mạnh hai khái niệm đó là: dạy và học. Thuyết kiến tạo góp phần làm thay đổi mục tiêu quá trình giáo dục - từ giáo dục cho tất cả mọi người sang mục tiêu lớn hơn là sự nghiệp giáo dục được tạo ra bởi tất cả mọi người. Đó là xã hội hóa giáo dục, học lẫn nhau, dạy lẫn nhau nhằm phát huy tiềm năng tri thức xã hội và tri thức cá nhân một cách tổng lực để có một xã hội văn minh, văn hóa, thực hiện mục đích tự giáo dục bằng học tập suốt đời.
Bằng cách xây dựng trên các kiến thức đã có, HS có thể nắm bắt tốt hơn các khái niệm, các quy luật đi từ nhận biết sự vật sang hiểu nó và phát hiện kiến thức mới. HS tiếp thu và vận dụng kiến thức mới theo cách làm chứ không dựa vào việc dạy quy tắc để làm và thực hành lí thuyết. Đương nhiên, không thể không quan tâm đến việc dạy theo lối chứng minh lí thuyết khái niệm, nhưng chính tư duy sáng tạo bằng ý tưởng do HS thực hiện mới là quan trọng. Nhìn chung các khái niệm được các nhà triết học, giáo dục học đưa ra đều có điểm chung đó là nhấn mạnh đến vai trò chủ động của người học trong quá trình học tập và cách thức người học thu nhận những kiến thức cho bản thân.