CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Những vấn đề chung về từ loại 1. Khái niệm về từ loại Mỗi từ có những điểm giống nhau, không phải hoàn toàn khác biệt với những từ khác. Những từ này hình thành từ loại, những lớp, nhóm khác nhau trong lòng kho từ vựng.
Do đó có thể phân các từ thành các loại. Việc phân loại các từ trong vốn từ vựng thành những loại, những lớp, những hệ thống lớn nhỏ có những đặc điểm giống nhau là điều cần thiết. Phân loại vốn từ của một ngôn ngữ thành những loại, những dạng dựa vào đặc trưng ngữ pháp được gọi là từ loại. Từ loại là lớp các từ có sự giống nhau về các đặc điểm ngữ pháp.
Muốn phân định được từ loại thì cần xác định được đặc điểm ngữ pháp của từ. Việc phân định từ loại trong tiếng Việt là nhằm tìm ra bản chất ngữ pháp, tính quy tắc trong hoạt động ngữ pháp và sự hành chức của các từ loại trong khi thực hiện chức năng làm công cụ để giao tiếp và tư duy; từ đó có thể sử dụng đúng quy tắc, hợp với phong cách và chuẩn tiếng Việt hiện đại. Trong ngôn ngữ có một loại hệ thống của các từ được hình thành trên cơ sở những đặc điểm ngữ pháp giống nhau. Tiêu chuẩn phân định từ loại tiếng Việt Vấn đề từ loại trong tiếng Việt từ lâu đã được các nhà nghiên cứu tiếng Việt chú ý đến.
Trong các công trình nghiên cứu hoặc trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt, từ trước đến nay, ở phần ngữ pháp không thể bỏ qua vấn đề từ loại. Một thời gian dài, người ta chỉ căn cứ vào ý nghĩa để xác định từ loại, dù rằng đó cũng là ý nghĩa khái quát của các từ cùng một loại. Chẳng hạn, người ta xác định danh từ là những từ gọi tên người, vật (đồ vật, con vật), 11 động từ là những từ chỉ hoạt động; còn tính từ là những từ chỉ đặc điểm, tính chất. Việc xác định từ loại chỉ căn cứ vào ý nghĩa như thế không hẳn là sai, nhưng có những hạn chế rất lớn: - Không thấy được sự thống nhất hữu cơ giữa mặt ý nghĩa và mặt hình thức ngữ pháp của từ.
- Không có tác dụng tích cực đối với quá trình sử dụng tiếng Việt, không có tác dụng hướng dẫn việc dùng từ đặt câu, việc nhận biết sửa chữa lỗi ngữ pháp. - Không nhận thấy và không thể hiện được sự khác biệt của các ngôn ngữ trong vấn đề từ loại, cũng không thấy được đặc điểm của các từ loại tiếng Việt. Cho đến nay trong ngôn ngữ học nước ngoài, cũng như trong lĩnh vực nghiên cứu tiếng Việt, vấn đề tiêu chuẩn phân định từ loại đã đạt đến sự thống nhất ý kiến: tiêu chuẩn (cơ sở) để phân định từ loại là ý nghĩa ngữ pháp và đặc điểm về hình thức ngữ pháp của từ. Ý nghĩa ngữ pháp khái quát Đây là ý nghĩa chung cho nhiều từ cùng một loại.
Ví dụ: - Các từ: đi, ăn, ngủ, học tập, làm việc, lo lắng, sợ hãi, yêu, tin. là chỉ hoạt động hay trạng thái. - Các từ: nhà, bàn, bút, cây, trâu, đất, bò, học sinh, thanh niên, niềm tin, cuộc sống. là chỉ sự vật.
- Các từ: đẹp, xấu, trắng, đen, to, nhỏ, lớn lao, hùng vĩ, đồ sộ, tuyệt diệu. là chỉ đặc điểm, tính chất. Đặc điểm về hình thức ngữ pháp Ý nghĩa ngữ pháp tồn tại trong sự thống nhất với hình thức ngữ pháp. Ví dụ: trong các tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp.
danh từ thường được xác định là những từ có hình thức biểu hiện các ý nghĩa thuộc phạm trù giống, 12 số, cách,. còn động từ thì có hình thức biểu hiện các ý nghĩa thuộc phạm trù ngôi, thời, thế và cả giống, số,. Đối với tiếng Việt, một ngôn ngữ mà từ không có biến đổi hình thái để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp, đã từng có ý kiến cho rằng đó là một ngôn ngữ phi hình thái và từ trong tiếng Việt là những từ phi hình thái, do đó tiếng Việt không có từ loại. Quan niệm này đã bị phản bác vì cách hiểu hẹp hòi về hình thức ngữ pháp và sự áp dụng máy móc các khái niệm ngữ pháp từ các ngôn ngữ khác vào tiếng Việt.
Như ở trên đã thấy, hình thức ngữ pháp có thể thuộc về các phương thức ngữ pháp khác nhau. Ở các ngôn ngữ tổng hợp - biến hình từ, phương thức ngữ pháp điển hình là phương thức dùng phụ tố, do đó hình thức ngữ pháp của một từ thuộc một từ loại nào đó được biểu lộ trong hình thái nội bộ của từ đó. Còn trong tiếng Việt (và các ngôn ngữ khác cùng loại hình) thì phương thức ngữ pháp đặc thù lại là các phương thức trật tự từ, hư từ, ngữ điệu. Vì vậy hình thức ngữ pháp của một từ thuộc từ loại nào đó lại được biểu lộ ở những yếu tố bên ngoài từ.
Với cách hiểu như vậy, trong ngành Việt ngữ học, cho đến nay, tiêu chuẩn này đã được cụ thể hóa ở hai phương diện sau đây: - Khả năng kết hợp của từ với các từ khác, đặc biệt là với hư từ. Khả năng này còn được nhìn nhận dưới một góc độ: khả năng tổ chức (làm thành tố chính hay thành tố phụ) một cụm từ chính phụ. - Khả năng và cách thức thể hiện các chức năng ngữ pháp trong câu (chức năng của các thành phần câu, nối kết các thành phần câu và tình thái hóa cho câu). Khái quát chung về từ loại danh từ, động từ, tính từ 1.
Những vấn đề chung về danh từ * Danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật, khái niệm, hiện tượng hay đơn vị). 13 * Danh từ tiếng Việt có những đặc trưng cơ bản sau: - Có ý nghĩa sự vật. - Kết hợp với các từ chỉ lượng ở trước và các từ chỉ định ở sau, nghĩa là có khả năng làm thành tố chính của cụm danh từ. - Thực hiện chức năng của các thành phần câu.
Khi làm vị ngữ thường cần có từ “là”. Ví dụ: + Lực lượng chính // là những học sinh này. Danh từ có thể tách biệt trước hết thành hai loại: (1). Danh từ riêng: Gọi tên riêng của một người, một vật (Nguyễn Văn Trỗi, Việt Nam, Hà Nội, Cửu Long.
Danh từ chung: Gọi tên một lớp sự vật cùng loại (giường, ốc, nhà máy cam, công nhân,.), chiếm một số lượng lớn, có thể tách biệt thành một số tiểu loại: - Danh từ tổng hợp: Là những danh từ chỉ gộp những sự vật cùng loại. Chúng là các từ ghép đẳng lập hoặc từ láy. Ví dụ: vợ chồng, quần áo, binh lính, bếp núc, xe cộ, bạn bè, máy móc, cây cối,. Danh từ tổng hợp được cấu tạo theo kiểu đẳng lập, các tiếng có thể gần nghĩa hoặc cùng nghĩa, nhưng đều tạo nên một nghĩa chung, không tách biệt các cá thể sự vật.
Ở các từ cấu tạo theo kiểu láy thì chỉ có một tiếng có nghĩa, một tiếng không có nghĩa. Đối lập với các danh từ tổng hợp là các danh từ chỉ các vật thể rời, cá thể (tủ, giường, bưởi, mèo,. - Danh từ chỉ đơn vị: chỉ đơn vị các sự vật, kết hợp trực tiếp với số từ. - Danh từ chỉ vật thể: có thể chỉ người, đồ vật, thực vật, động vật,.thường kết hợp với số từ thông qua danh từ chỉ đơn vị tự nhiên.
Ví dụ: Những người công nhân, hai đứa học trò, ba con cá, bốn cái xe, vài cây chanh, các ngôi nhà, những quả núi, dăm trái hồng,. - Danh từ chỉ chất liệu: chỉ sự vật tồn tại dưới dạng chất liệu, thường 14 kết hợp với số từ thông qua danh từ chỉ đơn vị đo lường. Đó là các từ như: đường, muối, dầu, xăng, nước, đất, đá, sắt, thép, khí, hơi,. Ví dụ: ba lít sữa, năm cân thịt,.
- Danh từ có ý nghĩa trừu tượng: biểu hiện các khái niệm trừu tượng như: thói quen, tính nết, tư tưởng, đạo đức, quan hệ, khả năng, thái độ,. Những vấn đề chung về động từ - Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật. - Động từ chỉ hoạt động hay trạng thái (trạng thái tâm lý, sinh lý hay vật lý). - Chúng có khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ).
Động từ có khả năng làm thành tố chính của cụm từ chính phụ, mà các thành tố phụ trước của nó là các phụ từ. - Động từ có khả năng đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu; khi làm vị ngữ động từ không cần đến từ “là”. Ví dụ: + Chúng em đang đá cầu. Ở ví dụ này “đá” là một động từ.
Nó là thành tố chính của cụm từ “đang đá cầu” với phụ từ “đang” ở trước, cả cụm từ này làm vị ngữ của câu một cách trực tiếp. Động từ có thể tách biệt hai nhóm: động từ độc lập và động từ không độc lập. - Động từ không độc lập thường không thể dùng một mình để làm thành phần câu. Chúng phải được dùng với một từ hoặc một cụm từ (trong đó có cả trường hợp một động từ khác) để đảm nhận vai trò của một thành phần câu.
Thuộc về phân nhóm này là các động từ chỉ khả năng (có thể, không thể,.), chỉ sự cần thiết (cần, nên, phải, nên phải,.), chỉ nguyên nhân (toan, định, dám, chực, buồn, muốn, mong,.), chỉ thời đoạn trong tiến trình (bắt đầu, tiếp tục, thôi, ngừng,.), chỉ sự bị động (bị, được, phải, chịu,.), chỉ sự biến hóa (hóa, hóa thành, biến thành, sinh ra, đâm ra,. Nó toan về quê (động từ + cụm động từ). Cậu bé bị mẹ mắng. Nhộng hóa thành bướm (động từ + danh từ).
- Động từ độc lập có thể dùng một mình (không cần đến các từ khác) để cấu tạo câu. Tuy nhiên do nhu cầu biểu hiện các nội dung cụ thể, chúng có thể vẫn cần đến những từ khác để bổ sung thêm nghĩa. Ví dụ: so sánh các câu sau: + Cậu bé đọc/ Cậu bé đọc báo/ Cậu bé đọc báo nhanh. Dựa vào khả năng kết hợp với các thành tố phụ đi sau và ý nghĩa, động từ độc lập được phân biệt thành nội động từ và ngoại động từ.
- Nội động từ chỉ trạng thái hay chỉ những hoạt động không tác động tới một đối tượng nào ở bên ngoài chủ thể. Ví dụ các động từ: đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ ngơi, ốm, nghĩ ngợi, hồi hộp, băn khoăn, lo lắng. Đứa bé đang ngủ ngon trong lòng mẹ. Nó hay ngồi ở đây để đón mẹ về.
- Ngoại động từ chỉ hoạt động có tác động đến một đối tượng bên ngoài, làm hình thành, biển đổi hoặc tiêu hủy đối tượng ấy.