phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, dự kiến luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học một số chủ đề Số học lớp 6. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Lý thuyết kiến tạo 1. Khái niệm “Kiến tạo” trong Từ điển Tiếng Việt có nghĩa là “ xây dựng nên”, kiến tạo tri thức tức là các tri thức không phải bẩm sinh mà có, chúng có lịch sử hình thành và phát triển nhất định.Zahorik: “Kiến thức không phải là tập hợp các sự kiện, khái niệm, định luật “chờ” đƣợc khám phá. Kiến thức không độc lập với chủ thể nhận thức. Con ngƣời xây dựng kiến thức khi họ muốn lý giải, làm cho trở nên có ý nghĩa những kinh nghiệm của mình.
Kiến thức đƣợc hình thành và phát triển qua sự bộc lộ, thử nghiệm trong tình huống mới.” Theo Mebrien và Brandt: “ Kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: Tri thức đƣợc kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân ngƣời học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó đƣợc ghi nhận từ ngƣời khác.” Brooks: “ Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng ngƣời học cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái mà họ đã có trƣớc đó. Ngƣời học tự tạo nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tƣơng tác với những chủ thể và ý tƣởng…” M. Briner đã viết: “HS tự tạo nên tri thức của bản thân thông qua việc điều khiển những ý tƣởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm sẵn có, đƣa chúng vào những tình huống mới tạo thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới tiếp nhận đƣợc với những kiến thức đã có của bản thân”. Nhƣ vậy, các khái niệm đƣợc các nhà triết học, giáo dục học đƣa ra đều có điểm chung đó là nhấn mạnh đến vai trò chủ động của ngƣời học trong quá 8 trình xây dựng nên kiến thức trên cơ sở kinh nghiệm và tƣơng tác với môi trƣờng.
Trong quá trình học tập và thu nhận kiến thức, thông qua các kiến thức sẵn có và kinh nghiệm của bản thân cùng sự tƣơng tác trong môi trƣờng học tập thì bản thân mỗi cá nhân phải tự xây dựng nên kiến thức cho bản thân, đôi khi phải vƣợt qua các trở ngại nhận thức, thay đổi nhận thức cho phù hợp để đạt đƣợc kiến thức đúng. Quan điểm của lý thuyết kiến tạo Theo quan điểm của Lý thuyết kiến tạo, con ngƣời tự hệ thống hóa kiến thức của bản thân và tái hiện lại kiến thức từ kinh nghiệm của mình. Việc học tập không phải là quá trình chuyển thông tin từ giáo viên hay giáo trình đến học sinh mà thay vào đó, mỗi ngƣời học tự xây dựng vốn tri thức, hiểu biết của riêng bản thân mình. Trong quá trình xây dựng kiến thức cho bản thân mình điều quan trọng nhất là HS có thể tự vận dụng những kiến thức đã có để giải quyết một tình huống mới nảy sinh và sắp xếp kiến thức mới vào cấu trúc hiện có thì lúc đó kiến thức mới sẽ có giá trị ứng dụng và không bị lãng quên.
Mỗi ngƣời xây dựng kiến thức cho bản thân mình theo một cách khác nhau, thậm chí trong cùng một hoàn cảnh nhƣng mỗi ngƣời kiến tạo tri thức riêng biệt cho mình. Theo nhà tâm lý học, giáo dục học J.Piaget các tri thức đều đƣợc xây dựng dựa trên hai cơ chế là “đồng hóa” và “điều ứng”. Sự đồng hóa xuất phát từ việc ngƣời học có thể vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm sẵn có để giải quyết tình huống mới. Còn sự điều ứng xuất phát khi ngƣời học giải quyết tình huống mới mà gặp khó khăn bắt buộc phải thay đổi những kiến thức, kinh nghiệm sẵn có.
Từ đó, tình huống mới đƣợc giải quyết và những tri thức mới đƣợc xây dựng và bổ sung vào những tri thức đã có. Trong khi Piaget tập trung vào bản chất riêng biệt của quá trình kiến tạo kiến thức, Vygotsky lại chú trọng vai trò của ngƣời khác đối với việc xây dựng kiến thức mỗi cá nhân. 9 Nhà tâm lý học Vygotsky đƣa ra giả thuyết “vùng phát triến gần nhất”, trong đó ông cho rằng trong quá trình phát triển của trẻ em thƣờng xuyên diễn ra hai mức: trình độ hiện tại và vùng phát triển gần nhất. Trình độ hiện tại là trình độ mà cá nhân chủ thể có thể giải quyết đƣợc những tình huống đặt ra.
Vùng phát triển gần nhất là trình độ mà chủ thể độc lập giải quyết vấn đề thì gặp khó khăn và họ cần có sự hỗ trợ của ngƣời khác. Nếu các hoạt động dạy học đƣợc tổ chức trong “ vùng phát triển gần nhất” thì sẽ đạt đƣợc hiệu quả cao và đó mới là việc dạy học tốt. Điều này đòi hỏi GV cần cung cấp, giúp đỡ cho HS từ ban đầu cho đến khi HS đã có khả năng làm việc độc lập. Không chỉ vậy, LTKT cho rằng, học là một quá trình mang tính xã hội, hoạt động học không những diễn ra trong đầu óc HS mà còn diễn ra trong các mối quan hệ xã hội với những ngƣời xung quanh.
Nhƣ vậy, theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo thì HS phải là chủ thể tích cực xây dựng nên tri thức cho bản thân mình dựa trên cơ sở sử dụng và xem xét lại các kiến thức sẵn có thông qua sự tƣơng tác với môi trƣờng học tập và sự hƣớng dẫn, khuyến khích của GV – đây là tƣ tƣởng cốt lõi của LTKT. Luận điểm cơ bản của lý thuyết kiến tạo Trong những năm gần đây, các vấn đề về kiến tạo trong dạy học đã thu hút ngày càng nhiều các công trình của các nhà nghiên, đặc biệt phải kể đến Glaserfeld đã xây dựng 5 luận điểm hết sức quan trọng sau: Luận điểm 1: Tri thức đƣợc tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài. Luận điểm trên hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nhận thức và rất phù hợp với quan điểm của J. Piaget: “Những ý tƣởng cần đƣợc trẻ em tạo nên chứ không phải đƣợc tìm thấy nhƣ một viên sỏi hoặc nhận từ ngƣời khác nhƣ một món quà.” Trong dạy học, điều này cũng đƣợc thể hiện rõ ràng ví dụ khái 10 niệm về tập hợp, GV có thể đƣa ra nhiều ví dụ khác nhau xoay quanh khái niệm này nhƣng chúng chỉ có thể đƣợc tạo nên trong chính tƣ duy của HS.
Luận điểm 2: Nhận thức là quá trình thích nghi chủ động với môi trƣờng nhằm tạo nên các sơ đồ nhận thức của chính chủ thể chứ không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể. Luận điểm này đã cho thấy nhận thức không phải là quá trình HS thụ động thu nhận kiến thức do GV áp đặt lên, mà quá trình nhận thức của HS đƣợc diễn ra trong môi trƣờng học tập dƣới sự hƣớng dẫn của GV để từ đó HS chủ động, tái tạo tri thức cho bản thân. Trong quá trình học tập, HS đƣợc tạo điều kiện, đƣợc khuyến khích vận dụng những tri thức, kỹ năng đã có để thích nghi với môi trƣờng mới và qua đó hình thành kiến thức mới. Chẳng hạn, sau khi HS đã có kiến thức về phép nhân hai lũy thừa cùng cơ số, HS dựa vào đó có thể xây dựng đƣợc phép chia hai lũy thừa cùng cơ số.
Luận điểm 3: Kiến thức và kinh nghiệm mà cá nhân HS thu nhận đƣợc phải phù hợp với những yêu cầu mà tự nhiên, xã hội đặt ra. Luận điểm này định hƣớng cho việc dạy học theo LTKT, nhằm khắc phục tình trạng HS phát triển một cách quá tự do để dẫn đến hoặc tri thức HS thu đƣợc trong quá trình học tập là quá lạc hậu hoặc là quá xa vời với tri thức khoa học phổ thông, không phù hợp với lứa tuổi, không phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Luận điểm 4: HS đạt đƣợc tri thức mới theo chu trình nhƣ sau: Kiến thức và kinh nghiệm đã có => Dự báo => Kiểm nghiệm => Thất bại => Thích nghi => Kiến thức mới [10]. Đây có thể coi là chu trình học tập thể hiện rõ nét đặc trƣng của LTKT.
Nó khác hoàn toàn với chu trình học tập mang tính thụ động trong đó tri thức đƣợc truyền một chiều từ GV đến HS. Chu trình trên đã phản ánh sự không ngừng sáng tạo và vai trò chủ động, tích cực của HS trong quá trình học tập. 11 Ví dụ: GV đƣa ra câu hỏi: Nếu ta có các số chia hết cho 2 thì tổng các số đó có chia hết cho 2 hay không? HS có thể đƣa ra các dự đoán sau: Dự đoán 1: không chia hết. Dự đoán 2: chia hết.
Kiểm chứng các dự đoán trên bằng các ví dụ cụ thể thì thấy chỉ có dự đoán 2 là phù hợp, từ đó HS xây dựng đƣợc tri thức mới. Luận điểm 5: Song song với việc hình thành kiến thức là sự hình thành các hành động trí tuệ. Trong lớp học mang tính kiến tạo, HS không chỉ tham gia vào việc khám phá tìm ra tri thức mới mà còn tham gia vào cả quá trình trao đổi, tƣơng tác xã hội bao gồm việc giải thích, đàm phán và nhận xét. Ví dụ: GV đƣa ra câu hỏi: Một số chia hết cho 9 thì có chia hết cho 3 hay không? HS có thể đƣa ra các dự đoán: Nhóm 1: Số đó có chia hết.
Nhóm 2: Số đó không chia hết. Các HS trao đổi, giải thích để bảo vệ ý kiến của mình, ở đây xuất hiện các mối quan hệ tƣơng tác với nhau, và cuối cùng GV sẽ hƣớng dẫn HS xác định dự đoán 1 là đúng. Luận điểm này đã chỉ rõ ngƣời học cần hòa mình vào các hoạt động trí tuệ của cộng đồng xã hội. Vì thế ngƣời học theo LTKT không những cần khám phá tri thức mà còn biết giải thích, trao đổi, giao ƣớc, kết nối và đánh giá những tri thức xã hội cung cấp.
Quá trình học tập không chỉ là diễn ra trong đầu óc mỗi cá nhân mà nó còn có thể vƣợt ra bên ngoài tạo nên sự xung đột giữa các cá nhân trong quá trình nhận thức, đó là động lực để thúc đẩy quá trình học tập của ngƣời học. Các loại kiến tạo trong dạy học 1.