Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức. - Tạo tính huống có vấn đề - Phát triển và nhận dạng vấn đề nảy sinh - Phát biểu vấn đề cần giải quyết Bƣớc 2: Giải quyết vấn đề đặt ra - Đề xuất các giả thuyết - Lập kế hoạch giải quyết vấn đề - Thực hiện kế hoạch Bƣớc 3: Kết luận 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thảo luận kết quả và đánh giá - Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu - Phát biểu kết luận - Đề xuất vấn đề mới Nhƣ vậy giờ học hóa học vận dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề là quá trình hoạt động tƣơng tác giữa GV và HS nhằm tìm ra nội dung kiến thức mới có thể sơ đồ hóa nhƣ sau: HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nêu vấn đề cần tìm hiểu. Lắng ghe, nắm bắt vấn đề. Yêu cầu học sinh đề xuất Thực hiện hoạt động đề xuất các giả thuyết khác nhau.
Tổ chức cho HS hoạt động Thảo luận nhóm về vấn đề, kế nhóm giải quyết vấn đề. hoạch GQVĐ và thực hiện kế hoạch giải Hƣớng dẫn HS tiến hành thí Tiến hành thí nghiệm. nghiệm để kiểm tra giả thuyêt. Quan sát, ghi chép hiện Hƣớng dẫn HS quan sát, ghi tƣợng và rút ra kết luận.
chép rút ra kết luận. Sơ đồ quy trình vận dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình huống có vấn đề. Khái niệm về tình huống có vấn đề đƣợc nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu vì thế có rất nhiều định nghĩa và cách định nghĩa khác nhau đƣợc đƣa ra.
Quan niệm của tâm lý học Theo Okon.V: Tình huống có vấn đề là một hiện tƣợng chủ quan, là một trạng thái tâm lý của chủ thể, trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận thức nhƣ một mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể nhận thức trong hoạt động của con ngƣời. Macmutop: “Tình huống có vấn đề đó là trở ngại về trí tuệ của con ngƣời, xuất hiện khi họ chƣa biết cách giải thích hiện tƣợng, sự kiện, quá trình thực tế, khi chƣa đạt tới mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này đòi hỏi con ngƣời tìm cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo có hiệu quả.
Nó quy định sự khởi đầu của tƣ duy hành động, tƣ duy hành động tích cực sẽ diễn ra trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề”. Quan niệm lý luận dạy học Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức đƣợc học sinh chấp nhận nhƣ một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết đƣợc, kết quả là họ nắm đƣợc tri thức mới. Nhƣ vậy, tình huống có vấn đề là sự vật hiện tƣợng chứa đựng mâu thuẫn nhận thức và có tác dụng kích thích hoạt động tƣ duy của học sinh. Cơ chế phát sinh tình huống có vấn đề.
Tình huống có vấn đề chỉ xuất hiện khi một cá nhân đứng trƣớc một mục đích cần đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhƣng chƣa biết giải quyết bằng cách nào 1. Cách thức xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học hóa học [10] Cách thứ nhấ (tình huống nghịch lý – bế tắc) 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tình huống có vấn đề đƣợc tạo ra khi kiến thức của học sinh đã có không phù hợp (không đáp ứng đƣợc) với đòi hỏi của nhiệm vụ học tập hoặc với thực tế. Vấn đề đƣa ra mới nhìn thì thấy dƣờng nhƣ vô lý, trái với nguyên lý đã công nhận chung. Theo nguyên tắc này sẽ tạo ra tình huống nghịch lý và bế tắc.
Có thể coi đây là một dạng tình huống có vấn đề với hai đặc điểm hoặc tách ra hai kiểu tình huống nhỏ: nghịch lý và bế tắc. Tình huống nghịch lý: GV đƣa ra tình huống có vấn đề mà mới nhìn thấy dƣờng nhƣ rất vô lý, trái ngƣợc với nguyên lý chung đã đƣợc công nhận. Tình huống này thƣờng gặp ở các nhà khoa học có những phát minh lỗi lạc, khi gặp những sự kiện, hiện tƣợng khoa học trái với lý thuyết đƣơng thời. Nhờ nghịch lý đó mà các phát minh ra đời.
Nhƣ là các học thuyết về cấu tạo chất, lịch sử phát minh và hoàn thiện hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học là những tài liệu quý giá để tạo ra những tình huống nghịch lý. Tình huống bế tắc: Là tình huống (lý thuyết hoặc thực nghiệm) mà khi xem xét thì có mâu thuẫn và nếu dùng lý thuyết đã biết để giải quyết thì gặp bế tắc. Khi đó phải vận dụng lý thuyết hoặc quy luật khác để giải thích. Ví dụ: - Quy luật điền electron vào các phân lớp – sự chèn các phân lớp elecreon, sự điền electron của các nguyên tố họ d.
- Quy luật kim loại mạnh đẩy kim loại yếu ra khỏi dung dịch muối…. Tình huống nghịch lý và bế tắc có những nét khác nhau về đặc điểm, mức độ nội dung kiến thức dẫn đến sự khác nhau về mức độ ơritic. Tình huống nghịch lý có tính ơritic sâu sắc hơn và thƣờng hàm chứa trong những nội lý thuyết (các quy luật và những học thuyết hóa học chủ đạo). Tuy nhiên, hai kiểu tình huống này thƣờng chung một nguồn gốc, một biểu hiện mà ta có thể đồng nhất đƣợc.
Cách thứ hai (tình huống lựa chọn) Là tình huống có vấn đề đƣợc tạo ra khi học sinh phải lựa chọn giữa hai hay nhiều phƣơng án giải quyết, và chỉ lựa chọn đƣợc một phƣơng án duy 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất để đảm bảo việc giải quyết vấn đề đặt ra. Đây là tình huống lựa chọn hoặc tình huống bác bỏ. Cách thứ ba (tình huống “tại sao”) Là tình huống có vấn đề đƣợc xuất hiện khi yêu cầu phải tìm kiếm nguyên nhân của một kết quả, nguồn gốc của một hiện tƣợng, tìm lời giải đáp cho câu hỏi tại sao? Đây là một tình huống phổ biến, thƣờng xuyên và rất hiệu nghiệm trong quá trình nhận thức hóa học nói riêng. Trong dạy học hóa học chúng ta thƣờng xuyên gặp tình huống “tại sao”? Đó là khi cần giải thích những hiện tƣợng, những tính chất hóa học dựa vào thành phần và cấu tạo của nguyên tử hay tính chất hóa học.
Loại tình huống này giúp học sinh tích lũy đƣợc vốn kiến thức vừa có chiều rộng vừa có chiều sâu. Dạy học sinh cách giải quyết vấn đề 1. Tầm quan trọng của giai đoạn giải quyết vấn đề Nhiệm vụ của giai đoạn này là đi tìm điều chƣa biết trong tình huống có vấn đề. Đây là khâu chủ yếu, có tầm quan trọng đặc biệt trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
Đây cũng là bƣớc chuẩn bị cho các em hình thành và phát triển năng lực giải quyết sáng tạo các vấn đề trong thực tiễn đời sống. Vì vậy cần phải luyện tập cho học sinh biết cách giải quyết các vấn đề từ đơn giản đến phức tạp trong học tập cũng nhƣ trong thực tiễn. Cần tổ chức quá trình giải quyết vấn đề học tập nhƣ thế nào để ở mức độ nhất định nó giống nhƣ quá trình nghiên cứu khoa học, và ở chừng mực nào đó học sinh phải thể hiện nhƣ “ nhà nghiên cứu” đang tìm cách giải quyết vấn đề học tập nảy sinh. Muốn vậy, trong quá trình nghiên cứu giải quyết vấn đề học tập, GV đóng vai trò là ngƣời dẫn đƣờng và tổ chức các hoạt động tìm tòi của học sinh, giúp học sinh đánh giá các giả thuyết, giảm nhẹ khó khăn để học sinh giải quyết vấn đề nhanh chóng.
Vai trò của GV không phải là nói cái gì mà là tổ chức hoạt động tìm kiếm tích cực của học sinh nhƣ thế nào? Qua đó hình thành cho học sinh một cách tuần tự kỹ năng tự mình tìm ra vấn đề và sau đó 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng tự tìm ra con đƣờng giải quyết tối ƣu vấn đề đó. Nhƣ vậy cơ chế chủ yếu của việc đi tìm điều chƣa biết trong tình huống có vấn đề là: - Thƣờng xuyên đƣa đối tƣợng vào hệ thống mới, những mối quan hệ mới mà thông qua chúng những tính chất chƣa biết đƣợc phát hiện. - Luôn đặt ra những câu hỏi tại sao? Và đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó. Quy trình giải quyết vấn đề trong dạy phát hiện và giải quyết vấn đề [10] Trong quá trình giải quyết vấn đề học tập, GV đóng vai trò là ngƣời chỉ đạo, hƣớng dẫn, tổ chức hoạt động tìm tòi của học sinh, giúp các em nhận ra vấn đề, xác định phƣơng hƣớng giải quyết vấn đề, đánh giá các giả thuyết, giảm nhẹ khó khăn để học sinh giải quyết vấn đề đƣợc nhanh chóng.
Tính hiệu quả của cách thức này còn phụ thuộc vào khả năng, mức độ nhận thức, mức độ chuẩn bị và sự phát triển trí tuệ của học sinh quyết định. Tuy hoạt động tìm tòi của học sinh trong khi giải quyết vấn đề rất nhiều vẻ nhƣng chúng ta có thể phân ra thành các bƣớc cơ bản sau: 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PPDH PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Phát biểu vấn đề 3. Xác định hƣớng giải quyết, đề xuất giả thuyết 4.
Lập kế hoạch giải theo các giả thuyêt Không đúng với GT 5. Thực hiện kế hoạch giải 6. Đánh giá việc thực hiện kế hoạch giải Xác định GT đúng. Kết luận về lời giải 8.
Kiểm tra lại, ứng dụng kiến thức vừa thu đƣợc Hình 1. Sơ đồ các bƣớc giải quyết vấn đề. Quy trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố và tính phức tạp của vấn đề nghiên cƣú, trình độ kiến thức và năng lực nhận thức của học sinh…. Do đó quá trình vận dụng có thể thay đổi đơn giản hơn hoặc phức tạp hơn.
Việc xác định mức độ của PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề tùy thuộc vào mức độ của học sinh tham gia giải quyết bài toán Ơrictic, nghĩa là mức độ học sinh tham gia vào việc xây dựng và giải quyết vấn đề học tập. Theo quan điểm này ngƣời ta quy ƣớc dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có bốn mức độ sau: 1. Các mức độ của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề [5] Mức độ 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, đồng thời GV giải quyết vấn đề. HS là ngƣời quan sát và tiếp nhận kết luận do GV thực hiện.
Đây là mức thấp nhất và thƣờng áp dụng với HS trung học cơ sở.