CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHỐI HỢP THÍ NGHIỆM VÀ PHIẾU HỌC TẬP TRONG TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM 1. Dạy học nhóm 1. Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa về PPDH nhóm: Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: “Thảo luận nhóm nhỏ là phương pháp trong đó nhóm lớp (lớp học) được phân chia thành nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một vấn đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó ”[14].
Như vậy, DH nhóm có thể hiểu đó là một hình thức dạy học trong đó GV chia HS thành những nhóm nhỏ dưới sự điều khiển của nhóm trưởng nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập qua trao đổi tương tác giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm với nhau. Các hình thức tổ chức DH nhóm Có nhiều hình thức tổ chức DH nhóm, tùy vào mục đích, ý đồ sử dụng và điều kiện dạy học GV có thể lựa chọn các hình thức khác nhau. Sau đây là các hình thức phổ biến [4], [23]: a. Nhóm hai HS Nhóm hai HS là hình thức hai HS ngồi kề nhau trao đổi với nhau để giải quyết các vấn đề GV giao cho như một câu hỏi, một bài tập hay một vấn đề đơn giản nào đó.
GV cần cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, các gợi ý và yêu cầu của vấn đề để người học tranh luận giải quyết. Trong quá trình giải quyết các tình huống, HS sẽ thu nhận kiến thức một cách tích cực. - Ưu điểm: + Tiết kiệm được thời gian do không phải di chuyển chỗ ngồi của các HS trong lớp nhưng vẫn đảm bảo được sự hợp tác làm việc giữa các HS. + Khắc phục được tình trạng các thành viên không làm việc trong quá trình hoạt động nhóm.
11 - Nhược điểm: Tốn kém do cần phải trang bị nhiều phương tiện DH, thiết bị. Chẳng hạn như cần có nhiều bộ TN trong quá trình DH do lớp học phải chia thành nhiều nhóm. - Áp dụng: + Khi giao cho HS chấm bài, sửa bài cho nhau. + Trường hợp sau khi giao việc cho từng cá nhân, HS trao đổi kinh nghiệm nhằm giải quyết tình huống đã đề ra b.
Nhóm nhỏ thông thường Nhóm nhỏ thông thường gồm (4 – 5) HS hoặc (7 - 8) HS, cùng nhau thảo luận một vấn đề cụ thể nào đó có qui định về thời gian và nhanh chóng kết luận tập thể về vấn đề đó. Với nhóm nhỏ thông thường thì có 2 hình thức tổ chức thảo luận. Đó là hình thức hoạt động trao đổi và hình thức hoạt động so sánh: + Trong hoạt động trao đổi, mỗi nhóm giải quyết 1 vấn đề khác nhau (nhưng cùng 1 chủ đề), sau đó trao đổi vấn đề và giải quyết vấn đề của nhóm mình đối với nhóm khác. + Trong hoạt động so sánh, tất cả các nhóm cùng giải quyết một vấn đề, sau đó so sánh cách giải quyết khác nhau giữa các nhóm.
- Ưu điểm: + Việc sắp xếp vị trí của các thành viên trong nhóm phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất trong lớp học ở nước ta. + Có hai hình thức thảo luận (hoạt động trao đổi và hoạt động so sánh) có thể hỗ trợ cho nhau. - Nhược điểm: GV khó quan sát hết HS trong các nhóm do lớp học chia thành nhiều nhóm, dẫn đến tình trạng một số HS không tham gia hoạt động thảo luận. - Áp dụng: + Nội dung thảo luận của nhóm nhỏ thông thường là các vấn đề ngắn, thời lượng ít (5 – 10 phút).
12 + Hình thức hoạt động trao đổi thường được áp dụng cho những bài học phức tạp gồm nhiều nội dung kiến thức mà mỗi nhóm HS không đủ thời gian và phương tiện để thực hiện. + Hình thức hoạt động so sánh thường dùng cho những bài học có dung lượng không lớn. Nhóm chuyên gia Hình thức tổ chức nhóm chuyên gia là hình thức mà ban đầu GV chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm gọi là nhóm gốc gồm những HS có trách nhiệm cùng nhau tìm hiểu những thông tin đầy đủ, trong đó mỗi HS được phân công tìm hiểu một phần của các thông tin đó. Sau đó GV lập nhóm chuyên gia gồm tập hợp những HS ở trong những nhóm gốc khác nhau có cùng chung một nhiệm vụ tìm hiểu sâu một phần thông tin.
Như vậy, một HS sẽ nhận nhiệm vụ từ nhóm gốc, cùng làm việc và trao đổi kĩ ở nhóm chuyên gia. Sau đó, lại trở về nhóm gốc để trình bày kết quả về các thông tin mình đã thu thập được. - Ưu điểm: + Trong cùng một khoảng thời gian, khối lượng công việc mà cả lớp làm được nhiều hơn. + HS có điều kiện nghiên cứu sâu về một lĩnh vực, đồng thời có điều kiện rèn luyện các kĩ năng nghiên cứu khoa học, việc báo cáo của các nhóm sẽ do tất cả các thành viên của nhóm đảm nhận chứ không phải chỉ do một HS khá, giỏi đảm nhận.
- Nhược điểm: Mất nhiều thời gian trong quá trình hoạt động nhóm do mỗi HS phải hoạt động trong hai nhóm khác nhau (nhóm gốc và nhóm chuyên gia). - Áp dụng: + Thích hợp khi dạy những môn chuyên ngành, những vấn đề khó. + Áp dụng cho lớp học có khoảng trên dưới 20. Nhóm kim tự tháp Hình thức tổ chức nhóm kim tự tháp là hình thức mở rộng của nhóm hai HS.
Đây là cách tổng hợp ý kiến tập thể của lớp học về một vấn đề của bài học. Đầu tiên 13 GV nêu một vấn đề cho các HS làm việc độc lập. Sau đó ghép 2 HS thành một cặp để các HS chia sẻ ý kiến của mình. Kế đến các cặp sẽ tập hợp thành nhóm 4, nhóm 8, nhóm 16…Cuối cùng cả lớp sẽ có 1 bảng tổng kết các ý kiến hoặc một giải pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề.
- Ưu điểm: Với hình thức này, một vấn đề được thảo luận nhiều lần và thông qua nhiều nhóm khác nhau. Như vậy, bất kỳ ý kiến các nhân nào cũng đều dựa trên ý kiến của số đông. - Nhược điểm: Mất nhiều thời gian trong quá trình hoạt động nhóm. - Áp dụng: Mô hình này phù hợp với các tiết dạy ôn tập chương hay cuối một học kì khi HS cần nhớ lại các định nghĩa, khái niệm, công thức…đã học trong một chương.
Các phương tiện hỗ trợ tổ chức dạy học nhóm a. Phiếu học tập Trong dạy học nhóm đòi hỏi học sinh phải tích cực hoạt động và tự lực tìm ra kiến thức còn GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn.Trong hoạt động nhóm, PHT là một phương tiện hỗ trợ hoạt động tự lực của HS, giao nhiệm vụ, định hướng và gợi ý để HS tự tìm tòi kiến thức. PHT đặt ra nhiệm vụ học tập và cụ thể hóa thành các vấn đề, các bài tập, các câu hỏi, từ đó HS sẽ thực hiện nhiệm vụ GV đề ra mà không lệch hướng khỏi vấn đề đang nghiên cứu. PHT đưa ra những hướng dẫn, những gợi ý về cách thực hiện nhiệm vụ học tập, HS tự mình ghi lại kết quả nghiên cứu trên phiếu.
Điều đó làm cho các vấn đề trở nên vừa sức với HS, giúp các em tự tin và mạnh dạn thể hiện khả năng của mình. Thí nghiệm Thí nghiệm là một trong những phương tiện quan trọng trong hoạt động nhận thức con người, thông qua thí nghiệm con người thu nhận được những tri thức khoa học cần thiết nhằm nâng cao năng lực của bản thân để có thể tác động và cải tạo thực tiễn. Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm nên việc sử dụng các thí nghiệm Vật lý ở trường THPT là một trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS. Thí nghiệm Vật 14 lý còn có tác dụng to lớn trong việc phát triển năng lực nhận thức khoa học của HS, giúp HS làm quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học.
Đối với dạy học nhóm, thí nghiệm có thể được sử dụng như là một phương tiện tổ chức để làm việc theo nhóm. Khi tiến hành thí nghiệm đòi hỏi HS phải tự lực làm việc và phối hợp với nhau, qua đó phát huy vai trò của từng cá nhân và tính cộng đồng trách nhiệm trong công việc của các em. Thí nghiệm có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của tiến trình dạy học nhóm: đề xuất vấn đề nghiên cứu, giao nhiệm vụ; hoạt động nhóm để hình thành kiến thức mới, kỹ năng mới; cũng cố kiến thức, kỹ năng đã thu được. Sách giáo khoa SGK là một phương tiện quan trọng trong dạy học Vật lý ở trường THPT, nó thực hiện đồng thời chức năng là phương tiện làm việc của HS và là phương tiện hỗ trợ để GV thực hiện chương trình dạy học đã quy định.
SGK được sử dụng trong dạy học nhóm để HS tóm tắt bài với người bên cạnh, đọc và giải thích tài liệu theo từng cặp, giải quyết các vấn đề theo nhóm. Bản đồ tư duy Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học được phát huy mạnh mẽ, đặc biệt là trong hoạt động nhóm. Bản đồ tư duy chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của nó và tổng quan toàn bộ kết quả của nhóm ra sao. Điều này giúp tiết kiệm thời gian làm việc trong nhóm do các thành viên không mất thời gian giải thích ý tưởng của mình thuộc ý lớn nào.
Trong quá trình thảo luận nhóm có rất nhiều ý kiến trong khi đó mỗi người luôn giữ chính kiến của mình, không hướng vào mục tiêu đã đề ra dẫn đến không rút ra được kết luận cuối cùng. Sử dụng BĐTD sẽ khắc phục được những hạn chế đó bởi BĐTD tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đều suy nghĩ tập trung vào một vấn đề chung cần giải quyết, tránh được hiện tượng lan man và đi lạc chủ đề. BĐTD còn tạo nên sự cân bằng giữa các cá nhân và cân bằng trong tập thể. Mọi thành viên đều đóng góp ý kiến và cùng nhau xây dựng BĐTD của cả nhóm.
Các thành viên tôn trọng ý kiến của nhau và các ý kiến đều được thể hiện trên BĐTD. Trong thảo luận nhóm, BĐTD là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi nó 15 tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể.