Chương I: Cơ sở lý luận của việc vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học môn kỹ thuật điện. - Chương II: Khảo sát thực trạng dạy học môn kỹ thuật điện ở trường Cao Đẳng Vĩnh Phúc. - Chương III: Xây dựng bài giảng điện tử môn kỹ thuật điện theo quan điểm tích hợp. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC MÔN KỸ THUẬT ĐIỆN 1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Quan điểm dạy học Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học đại cương hay chuyên ngành, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược dài hạn, có tính cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học. Quan điểm về dạy học tích hợp Theo từ điển tiếng Việt [3, tr981] tích hợp là “Lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ ”.
Theo Từ điển giáo dục học [1, tr383] thì tích hợp là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy ”. Nội hàm khái niệm Tích hợp (integration) có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản liên hệ mật thiết với nhau và quy định lẫn nhau, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn. Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp.
Tính toàn 4 vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Trong dạy học, để hình thành cho người học một năng lực thì cần phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động hợp lý các nguồn nội lực (kiến thức, kỹ năng và thái độ của cá nhân) và ngoại lực (điều kiện và bối cảnh) để thực hiện công việc. Sư phạm tích hợp nhấn mạnh dạy cách tìm tòi sáng tạo và cách vận dụng kiến thức, kỹ năng vào các tình huống khác nhau. Tức là, dạy cho người học biết cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống cụ thể, có ý nghĩa nhằm mục đích hình thành và phát triển năng lực.
Với cách tiếp cận dạy học truyền thống, người ta phân biệt nội dung dạy học làm hai khối là kiến thức và kỹ năng. Đây được coi là hai thành phần chính tạo nên năng lực của một người lao động, bên cạnh thành phần thứ ba là thái độ thường được lồng vào hai thành phần ấy. Đơn vị của kiến thức là khái niệm và đơn vị của kỹ năng là thao tác. Hệ thống khái niệm cần thiết cho một nghề thể hiện trong các môn học lý thuyết.
Hệ thống các kỹ năng lao động kỹ thuật thể hiện trong các môn học thực hành. Hai khối này thường được dạy và học tách biệt nhau cả về địa điểm và trình tự. Dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà các nội dung học tập (kiến thức, kỹ năng và thái độ) và các hoạt động dạy - học được tích hợp với nhau để thực hiện các nhiệm vụ, công việc của nghề qua đó hình thành và phát triển năng lực cho người học. Như vậy, tích hợp trong dạy học là tích hợp của nội dung và tích hợp của hoạt động dạy – học.
Sự tích hợp này diễn ra trên nền tảng một công việc (task) chuyên môn và gắn với các tình huống nghề nghiệp mà để giải quyết chúng thì 5 một kiến thức, kỹ năng đơn lẻ hay một loại hoạt động riêng rẽ không thể thực hiện được. Trong thực tế để thực hiện các công việc của nghề theo tiêu chuẩn công nghiệp thì người lao động không chỉ sử dụng một loại kiến thức hoặc kỹ năng riêng lẻ nào đó mà phải sử dụng phức hợp các kiến thức, kỹ năng gắn với từng tình huống. Vì vậy, mục tiêu của dạy học không phải hướng đến việc trang bị các đơn vị kiến thức và kỹ năng đơn lẻ theo cấu trúc môn học mà nhằm hình thành năng lực thực hiện các công việc theo tiêu chuẩn công nghiệp trong các tình huống nghề nghiệp khác nhau. Trong dạy học nghề người ta quan tâm đến hình thành ở người học các năng lực sau: năng lực cá nhân (Individual competency), năng lực chuyên môn/kỹ thuật (Professional/ Technical competency), năng lực phương pháp luận (Methodical competency) và năng lực xã hội ( Social competency).
QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Cơ sở dạy học theo quan điểm tích hợp Tích hợp trong dạy học một nghề cụ thể là quá trình thống nhất các thành phần lý thuyết và thực hành thành một thể thống nhất nhằm đạt được yêu cầu của mục tiêu đào tạo [8]. Sự khác biệt giữa dạy lý thuyết nghề, dạy thực hành nghề với dạy học tích hợp bắt đầu từ sự khác biệt về chương trình dạy học. Nếu như dạy lý thuyết nghề và thực hành nghề được tiến hành theo chương trình môn học với cấu trúc chương, bài thì chương trình dạy tích hợp được kết cấu theo các mô đun năng lực thực hiện.
Chương trình mô đun được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích nghề (Occupational Analysis) bằng nhiều phương pháp khác nhau như: 6 phương pháp nội quan, phương pháp chuyên gia và DACUM (Development A Curriculum)….Việc phân tích nghề thực chất là nhằm xác định được mô hình hoạt động của người lao động, bao hàm trong đó những nhiệm vụ (Duties) và những công việc (Tasks) mà người lao động phải thực hiện trong lao động nghề nghiệp. Từ các nhiệm vụ và công việc của nghề người ta xây dựng hồ sơ năng lực nghề nghiệp (competency profile) bao gồm hệ thống năng lực và tiêu chuẩn năng lực thực hiện cho từng công việc. Tiêu chuẩn năng lực thực hiện là cơ sở để thiết kế các mô đun đào tạo, các mô đun này giúp cho việc luyện tập để hình thành và phát triển các năng lực nghề nghiệp. Vì vậy, sơ đồ phân tích nghề và bảng mô tả năng lực của từng công việc là tài liệu có ý nghĩa quan trọng cho việc thiết kế các bài học tích hợp, lựa chọn kiến thức và kỹ năng cần thiết cho mỗi công việc.
Có thể thấy rằng, tập hợp của các thông tin như tiêu chuẩn thực hiện, dụng cụ, thiết bị, vật liệu, quyết định, cách xử lý, sai hỏng và an toàn chính là kỹ năng cần thực hiện (kỹ năng này thuộc về kỹ năng sử dụng công cụ, máy móc thiết bị để thực hiện các nhiệm vụ sản xuất). Điều cần chú ý là, nội dung được ghi trong cột kiến thức của bảng phân tích công việc là các khái niệm cụ thể chứ không phải là tên các môn học liên quan. Phân loại tích hợp Theo quan điểm của D’HaiNaut [10, tr47] thì tích hợp được chia làm bốn loại sau đây: - Quan điểm trong “nội bộ môn học” (tích hợp trong môn học) ưu tiên các nội dung môn học. Quan điểm này duy trì một môn học riêng rẽ.
7 - Quan điểm “đa môn” trong đó có thể đề nghị những tình huống, những đề tài có thể được nghiên cứu ttheo những quan điểm khác nhau, nghĩa là theo những môn học khác nhau. Theo quan điểm này, những môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu, như vậy các môn học chưa thực sự được tích hợp. - Quan điểm “liên môn” trong đó đề xuất những tình huống chỉ có thể tiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học. Sự liên kết của nhiều môn làm cho chúng tích hợp lại với nhau để giải quyết một vấn đề, một tình huống cho trước.
- Quan điểm “xuyên môn” chủ yếu phát triển những kỹ năng mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống. Những kỹ năng này gọi là kỹ năng xuyên môn, có thể lĩnh hội các kỹ năng này trong từng môn học và có thể áp dụng ở mọi nơi. Các chương trình tích hợp có thể hực hiện ở các mức độ khác nhau: phối hợp, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn. Ở mức độ thấp có tích hợp về nội dung, phương pháp của một số môn liên quan nhưng mỗi môn cần đặt trong một phần hay những chương riêng.
Ở mức độ cao hơn có sự kết hợp chặt chẽ trong nội dung, đặc biệt là những phần giao nhau của các môn. Tích hợp ở mức độ cao nhất được thực hiện khi nội dung của các môn học được hòa vào nhau hoàn toàn thành một chỉnh thể mới, đạt mục tiêu đề ra một cách hiệu quả cả về nội dung và thời gian. Đặc điểm của dạy học theo quan điểm tích hợp[8] Dạy học theo quan điểm tích hợp mang đầy đủ các đặc điểm của các phương pháp dạy học. Cụ thể là: 8 - Tính khoa học, ứng dụng thực tiễn: Vận dụng đúng quan điểm duy vật biện chứng đối với việc nhận thức các sự vật, hiện tượng.
- Tính đa chức năng, đa phương án: Chỉ rõ phạm vi ứng dụng, cách khai thác những chức năng của mỗi đối tượng kỹ thuật và hướng dẫn người học lựa chọn công nghệ hợp lý trong mỗi điều kiện cụ thể. - Tính tiêu chuẩn hóa: Giáo dục người học coi trọng và tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình, thao tác thực hành, dạy người học hiểu và biết cách tra cứu các thông số tiêu chuẩn kỹ thuật và ứng dụng ngay vào thực tập sản xuất theo đúng quy trình. - Tính kinh tế: Mối tương tác giữa lý thuyết và thực hành sẽ củng cố kiến thức và hình thành kỹ năng vững chắc, tiết kiệm thời gian đào tạo.