CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát chung về biện pháp tu từ nhân hóa và dạy học biện pháp tu từ nhân hóa ở tiểu học 1. Khái niệm biện pháp tu từ nhân hóa Biện pháp tu từ nhân hóa là một biện pháp tu từ phổ biến và được sử dụng hàng ngày trong lời ăn tiếng nói cũng như trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, chính vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến biện pháp tu từ nhân hóa. Trong cuốn “Phong cách học Tiếng Việt” và “99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt” tác giả Đinh Trọng Lạc đã nói về biện pháp tu từ nhân hóa và tác dụng của nó khá đầy đủ và chi tiết trên phương diện lí thuyết.
Cụ thể, tác giả cho rằng, biện pháp tu từ này là một biến thể của ẩn dụ, trong đó, người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người, từ đó làm đối tượng trở nên gần gũi hơn Khái niệm này đã đưa ra yếu tố then chốt nhất của biện pháp tu từ nhân hóa, đó là sử dụng từ chỉ người để dùng cho vật, nhưng tác giả lại giới hạn biện pháp tu từ này trong phạm vi các từ chỉ đặc điểm, thuộc tính, mà chưa có sự mở rộng ra các yếu tố về từ để xưng hô, từ chỉ hoạt động, …[10,11]. Ngoài quan điểm trên, trong cuốn “Từ điển tu từ - Phong cách thi pháp học”, tác giả Nguyễn Thái Hòa định nghĩa biện pháp tu từ nhân hóa là một biện pháp tu từ thường được sử dụng trong các tác phẩm văn học, trong đó, các sự vật, sự việc như cây cối, đồ vật, con vật, … được gọi, tả bằng các từ vốn được sử dụng để chỉ hoặc tả con người. Chính vì vậy, thông qua biện pháp tu từ này, các hình ảnh sự vật, sự việc trở nên thân thuộc, gần gũi hơn với người đọc [6]. Tác giả Cù Đình Tú cũng đã đề cập, nghiên cứu về các biện pháp tu từ nhân hóa trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
Trong đó, tác giả cho rằng nhân hóa là 11 lấy các từ dùng để biểu thị thuộc tính, hoạt động của người chuyển sang biểu thị thuộc tính, hoạt động của vật. Với khái niệm này, tác giả đã mở rộng quan điểm của Đinh Trọng Lạc, bổ sung thêm các từ chỉ hoạt động vào trong khái niệm nhân hóa [20]. Cũng nhằm củng cố cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai, Vũ Thị Huyền Trang và Vũ Thanh Hương đã tiến hành so sánh đặc điểm của biện pháp tu từ nhân hóa ở hai loại ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Trung. Theo đó, tác giả đồng tình với khái niệm của văn học Trung Quốc về biện pháp tu từ nhân hóa: “Nhân hóa là sử dụng những từ ngữ chỉ hành vi ngôn ngữ, tư tưởng tình cảm của người để miêu tả vật”.
Quan điểm này có sự khác biệt với các khái niệm của Việt Nam, khi không cho rằng các biện pháp tu từ này không bao hàm việc sử dụng các từ chỉ đặc điểm, cách xưng hô, mà chỉ đề cập đến các từ chỉ hành vi [9,13]. Từ các quan điểm trên, một cách tổng hợp, trong khuôn khổ luận văn này, biện pháp tu từ nhân hóa là: “ một biện pháp tu từ trong đó người viết sử dụng các từ dùng cho người để dùng cho vật, các từ này bao gồm các từ chỉ đặc điểm, tính chất, hành vi, xưng hô, thuộc tính, nhằm làm nổi bật sự vật được nhân hóa, khiến các sự vật này trở nên gần gũi sinh động và có thể biểu lộ được cảm xúc, suy nghĩ của mình như người. Các hình thức nhân hóa Nhân hóa là một biện pháp tu từ được sử dụng rất phổ biến và cũng chính vì vậy, biện pháp này được phát triển, xây dựng và có nhiều hình thức sử dụng khác nhau. Ví dụ như quan điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc, nhân hóa gồm hai hình thức là dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị tính chất, hoạt động của đối tượng không phải người và coi đối tượng không phải như con người và tâm tình trò chuyện với nhau.
Hoặc theo quan điểm của văn học Trung Quốc, nhân hóa gồm hai hình thức: Miêu tả sự vật bằng những từ ngữ miêu tả con người và Gọi các sự vật bằng những từ ngữ để gọi con người 12 [10,13]. Do đó, trong luận văn này, tác giả cho rằng, có ba hình thức nhân hóa, gồm: Dùng các đại từ nhân xưng vốn để chỉ người để gọi các sự vật. Ví dụ như trong tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu ký”, tác giả Trần Đăng Khoa đã sử dụng các đại từ nhân xưng để gọi các loài côn trùng như chị Cào Cào, anh Gọng Vó, … Nhờ vậy, các nhân vật này có thể được lột tả hành động, tính cách một cách gần gũi, dễ hình dung hơn với trẻ. Sử dụng từ để chỉ hoạt động của người cho vật.
Cũng trong tác phẩm “Mưa”, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã mượn các động từ vốn của con người như : nghe, bế lũ con, cười, nhảy múa, mặc áo giáp, gỡ tóc, … Thông qua hình tượng nhân hóa này, các sự vật trong bài thơ như được thổi hồn nhân tính, chúng dù là sự vật nhưng lại có thể thể hiện các trạng thái cảm xúc, hoạt động như con người. Nhờ đó, các hình ảnh thơ trong bài mới có được sự sinh động, dễ hình dung. Để các sự vật, hiện tượng trò chuyện, xưng hô như con người, đây là hình thức thường được sử dụng trong các câu chuyện dân gian. Ví dụ như trong câu chuyện “Trí khôn của ta đây”, anh nông dân đã trò chuyện với con trâu của mình như với một người: “Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”.
Với hình thức nhân hóa này, nhân vật và các sự vật có thể nói chuyện với các sự vật, con vật, đồ vật như nói chuyện với con người, từ đó, khiến các sự vật trở nên gần gũi với con người, thể hiện được sắc thái tình cảm, cảm xúc của bản thân [7]. Dạy học biện pháp tu từ nhân hóa ở tiểu học Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu về dạy học biện pháp tu từ nhân hóa ở tiểu học, trong đó có không ít nghiên cứu đã đề cập tới phát triển một số năng lực nhất định của học sinh. Trong nghiên cứu của Sayakhan (2018), tác giả đã đưa ra một số quan điểm liên quan đến phát triển năng lực tưởng tượng 13 và tư duy. Cụ thể, giáo viên nên hướng dẫn học sinh phát triển năng lực này từng bước, song hành với việc nhận diện và sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa.
Giáo viên có thể viết các câu chứa hình tượng nhân hóa và đánh dấu, làm nổi bật chúng bằng cách đánh dấu ngoặc hoặc bôi màu. Khi học sinh đã dần làm quen được các hình tượng này, giáo viên có thể tăng độ khó bằng việc đưa ra các đoạn thơ ngắn chứa hình tượng nhân hóa, và yêu cầu học sinh phát hiện. Quy trình từng bước này không chỉ giúp học sinh rèn luyện được khả năng nhận diện được biện pháp tu từ nhân hóa mà đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực tưởng tượng, hiểu các hình tượng văn học dưới góc nhìn trừu tượng. Ở hướng tiếp cận khác, Klein cho rằng có thể dạy biện pháp tu từ nhân hóa cho học sinh tiểu học thông qua các trò chơi.
Bằng các quan sát trên một nhóm học sinh cụ thể, tác giả đã ghi nhận, việc tham gia các trò chơi đơn giản giúp học sinh dần hình dung được cách hiểu các hình tượng nhân hóa trong câu văn, câu thơ. Đồng thời, với việc nhập vai vào các hình tượng nhân hóa và làm việc theo nhóm, các em còn phát triển các năng lực liên quan đến hoạt động nhóm như giao tiếp, tổ chức [25,30]. Trong nước cũng có những nghiên cứu nhằm xây dựng các biện pháp dạy học, đánh giá chất lượng dạy học biện pháp tu từ nhân hóa ở tiểu học. Nghiên cứu của tác giả Đinh Văn Thử đã đề xuất sử dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy biện pháp tu từ nhân hóa cho học sinh tiểu học.
Trong đó, tác giả đã xây dựng bảy phương pháp dạy học có thể áp dụng bao gồm: Dạy học theo nhóm, Giải quyết vấn đề, Nghiên cứu trường hợp, Dạy học dự án, Phương pháp khám phá, Thuyết trình, và Hỏi-đáp. Với các phương pháp dạy học này, học sinh được thực hành nhiều kỹ năng như thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, đặt câu hỏi, … Từ đó, từng bước hình thành và phát triển các năng lực cá nhân như năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực làm việc nhóm và xây dựng mối quan hệ [19]. Tác giả Lê Thị Xuyên (2013) cho rằng có thể sử dụng hệ thống các bài tập nhỏ để rèn luyện kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa cho học sinh 14 lớp 5. Hệ thống bài tập này được xây dựng dựa trên sự phân loại của tác giả về trình độ của học sinh và hướng phát triển ngôn ngữ viết của từng học sinh.
Theo góc nhìn phát triển năng lực, với sự phân cấp độ khó dựa trên trình độ của học sinh, các bài tập nhỏ này không những kiểm tra được khả năng nhận diện và vận dụng biện pháp tu từ nhân hóa, mà đồng thời, chúng còn hình thành ở học sinh năng lực tư duy và giải quyết vấn đề. Các bài tập được thiết kế theo trình tự từ dễ đến khó sẽ giúp học sinh nỗ lực hơn để giải quyết, từ đó dần hình thành lối tư duy làm sao để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, nhanh chóng, chính xác [21]. Như vậy, từ các nghiên cứu trên đây có thể thấy, biện pháp tu từ nhân hóa là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nhà giáo dục hướng tới. Trong đó, thông qua các việc giảng dạy biện pháp tu từ này, các tác giả đều gián tiếp hướng đến phát triển ở học sinh các năng lực chung như năng lực giao tiếp, năng lực tư duy, giải quyết vấn đề, năng lực làm việc nhóm và xây dựng mối quan hệ.
Tuy nhiên, do mục tiêu của các nghiên cứu là xây dựng quy trình giảng dạy biện pháp tu từ mà chưa chú trọng đến phát triển các năng lực chung và cá nhân của học sinh.