MỞ ĐẦU Nhận dạng chữ viết, đặc biệt là chữ viết tay, là bài toán rất quan trọng, có nhiều ứng dụng thực tiễn khác nhau nhƣ trong tình báo, kỹ thuật robot,… Bài toán nhận dạng chữ viết đã và đang đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm giải quyết trong những năm gần đây. Tuy nhiên hiện nay chƣa có phƣơng pháp nào hoàn chỉnh cho bài toán này do tính phức tạp và sự biến dạng của dữ liệu đầu vào. Đối với việc nhận dạng chữ viết tiếng Việt, trong những năm gần đây đã đƣợc các nhà khoa học trong nƣớc quan tâm nghiên cứu. Với bài toán nhận dạng chữ viết tay tiếng Việt là khó vì các vấn đề về nét chữ của tiếng Việt.
Trong bối cảnh của chữ viết tay Việt Nam, không chỉ hai kí tự có nét chữ với nhau gây ra tình huống khó mà các trọng âm cũng có thể gây ra tình huống phức tạp hơn. Để có thể giải quyết tốt bài toán nhận dạng chữ viết tay tiếng Việt, thì một trong những giai đoạn quan trọng đó là phân đoạn các ký tự viết tay tiếng Việt. Từ lý do trên, em đã chọn luận văn: “Nghiên cứu phương pháp cắt chữ dính viết tay tiếng Việt”. Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu Tổng quan về chữ viết tiếng Việt và Hệ thống nhận dạng chữ viết tay để nắm những kiến thức cơ bản liên quan đến chữ viết tiếng Việt và hiểu đƣợc các giai đoạn trong Hệ thống nhận dạng chữ viết tay nói chung, làm cơ sở cho những bƣớc nghiên cứu tiếp theo; Nghiên cứu Tổng quan về xử lý ảnh và làm mảnh ảnh, nắm đƣợc một số phƣơng pháp làm mảnh ảnh cơ bản; Nghiên cứu đƣa ra phƣơng pháp tách các nét chữ viết tay tiếng Việt, chúng tôi sử dụng cấu trúc nét để đƣa ra phƣơng pháp tách.
Cuối cùng, chúng tôi tiến hành cài đặt và đƣa ra kết quả thử Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 nghiệm đối với phƣơng pháp mà chúng tôi đƣa ra để tách các nét chữ viết tay tiếng Việt. Cấu trúc của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CHỮ VIẾT TIẾNG VIỆT VÀ NHẬN DẠNG CHỮ VIẾT Trình bày những kiến thức cơ bản liên quan đến tiếng Việt nhƣ lịch sử của tiếng Việt,… cũng nhƣ Chữ viết tiếng Việt. Trình bày Khái quát về Hệ thống nhận dạng chữ viết tay và đƣa ra một số Hệ thống nhận dạng chữ viết tay tiếng Việt đã đƣợc các nhà nghiên cứu xây dựng. Chƣơng 2 MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP TÁCH CÁC NÉT CHỮ VIẾT TAY TIẾNG VIỆT Trình bày các phƣơng pháp làm mảnh song song và đƣa ra một số phƣơng pháp làm mảnh cơ bản.
Trình bày chi tiết phƣơng pháp tách các nét Chữ viết tay tiếng Việt mà chúng tôi đƣa ra, cụ thể: chúng tôi sử dụng cấu trúc nét để tách các ký tự viết tay tiếng Việt. Chƣơng 3 CÀI ĐẶT VÀ THỬ NGHIỆM Xây dựng Hệ thống tách các nét chữ viết tay tiếng Việt bằng phƣơng pháp mà chúng tôi đƣa ra và tiến hành thử nghiệm, đƣa ra kết quả của Hệ thống mà chúng tôi xây dựng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CHỮ VIẾT TIẾNG VIỆT VÀ NHẬN DẠNG CHỮ VIẾT Trong chương này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu và trình bày những kiến thức cơ bản liên quan đến tiếng Việt như lịch sử phát triển của tiếng Việt, đặc điểm của tiếng Việt và chữ viết tiếng Việt. Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ nghiên cứu và trình bày Khái quát về Hệ thống nhận dạng chữ viết tiếng Việt.
Các kiến thức dưới đây được tham khảo từ: [1], [2], [3]. Khái quát về Chữ viết tiếng Việt 1. Tóm lược lịch sử phát triển của tiếng Việt Tiếng Việt có nguồn gốc rất cổ xƣa và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, đầy sức sống. Sức sống đó biểu hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ và sáng tạo của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh anh dũng vì tiền đồ của đất nƣớc, trong sự phấn đấu bền bỉ để xây dựng và phát triển một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học Việt Nam.
Nguồn gốc tiếng Việt Tiếng Việt thuộc họ Nam Á. Đây là ý kiến phổ biến đƣợc trình bày trong nhiều công trình nghiên cứu về nguồn gốc các ngôn ngữ ở Đông Dƣơng và châu Á. Họ Nam Á là một họ ngôn ngữ đã có từ rất xƣa, trên một khu vực rộng của vùng Đông Nam châu Á. Vùng này, thời cổ, vốn là một trung tâm văn minh trên thế giới.
Đến ngày nay, vẫn còn nhiều dấu vết về mối quan hệ họ hàng gần gũi giữa tiếng Việt với tiếng Mƣờng, và mối quan hệ họ hàng tƣơng đối xa hơn, giữa tiếng Việt với nhóm tiếng Mon-Khmer ở dọc Trƣờng Sơn, ở miền Tây Nguyên, ở trên đấy Campuchia, Miến Điện (Mianma). Rõ nhất là những dấu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 vết trong lớp từ căn bản, tức là những từ thông thƣờng đã có từ lâu đời. Ví dụ: Trong tiếng Việt, có từ tay thì từ tƣơng đƣơng trong tiếng Mƣờng nghe nhƣ "thay"; tiếng Ba Na, tiếng Mơ Nông, nghe nhƣ "ti"; trong tiếng Môn, tiếng Khmer, nghe nhƣ "tai". Trong tiếng Việt, lại còn tìm thấy những chứng cứ về mối quan hệ giữa nó với nhóm tiếng khác, đặc biệt là với nhóm tiếng Thái.
Nếu những từ nhƣ chim, rú (rừng rú), sông. đƣợc xác nhận là cùng gốc với những từ tƣơng đƣơng trong nhóm Mon-Khmer, thì những từ nhƣ gà, vịt, đồng, rẫy. lại đƣợc chứng minh là cùng gốc với những từ tƣơng đƣơng trong nhóm Thái. Mối quan hệ này là do có họ hàng, hay chỉ do tiếp xúc với nhau mà sinh ra? Công việc nghiên cứu nguồn gốc tiếng Việt và các tiếng khác ở Việt Nam còn tiếp tục, nhƣng theo những căn cứ đã tìm thấy, có thể nghĩ rằng phần lớn những ngôn ngữ của các dân tộc thuộc khối cộng đồng ngƣời Việt Nam đều sinh ra từ một cội nguồn chung xa xƣa.
Từ cội nguồn ấy, tiếng Việt đã có quá trình phát triển riêng trong xã hội của ngƣời Việt – một xã hội sớm đạt tới trình độ tổ chức khá cao, với một nền văn minh nông nghiệp tƣơng đối hoàn chỉnh. Trải qua giai đoạn này, tiếng Việt đã thành một ngôn ngữ thống nhất và có bản sắc của nó. Bản sắc ấy khá vững bền. Nó sẽ tiếp tục phát huy tác dụng ở giai đoạn sau, giai đoạn của sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Tiếng Việt ở giai đoạn dùng chữ Nôm Sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Hán đã diễn ra cả nghìn năm dƣới chế độ đô hộ của phong kiến Trung Quốc, trong khuôn khổ một chính sách đồng hoá quyết liệt, tàn bạo; rồi sau đó, còn diễn ra cả nghìn năm tiếp theo, dƣới chính quyền của vua quan trong nƣớc. Suốt giai đoạn này, chữ Hán giữ vị trí rất quan trọng. Nó đƣợc dùng trong hành chính, tế lễ, học thuật, thơ văn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Nhƣng tiếng Việt, trong giai đoạn ấy, vẫn không ngừng phát triển, và đã phát triển càng ngày càng mạnh.
Nền văn học dân gian, với những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, những ca dao, tục ngữ, chứng tỏ quá trình phát triển sinh động, phong phú của tiếng Việt văn học truyền miệng. Tuy vậy, chữ viết là điều kiện cần thiết để cho một ngôn ngữ văn học có thể phát triển tới trình độ cao. Chữ viết của tiếng Việt, ở giai đoạn này, là chữ Nôm – một thứ chữ đƣợc tạo ra theo nguyên tắc và cơ sở của chữ Hán. Theo những tài liệu còn lại hiện đƣợc biết, có thể nghĩ rằng chữ Nôm đã xuất hiện vào khoảng các thế kỉ IX-X, nhƣng đến các thế kỉ XIII-XV mới có thơ phú "quốc âm", "quốc ngữ" viết bằng chữ Nôm, của những ngƣời nhƣ Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Nguyễn Sĩ Cố, Chu An, Nguyễn Trãi.
Đáng chú ý hơn cả là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Tập thơ này là một thành công đầu trong nền văn học viết của tiếng Việt. Nhà thơ là một vị anh hùng có công đuổi giặc, cứu nƣớc, đồng thời là một nhà văn hoá đã nhận rõ đƣợc ý nghĩa vô cùng quan trọng của sự nghiệp xây dựng và phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc. Từ thế kỉ XV về sau, đặc biệt là ở các thế kỉ XVIII, XIX, trào lƣu văn học chữ Nôm phát triển mỗi thời một mạnh hơn, với nhiều tác phẩm hơn, những tác phẩm đƣợc lƣu truyền rộng rãi trong nhân dân, trƣớc thái độ tiêu cực của triều đình và tầng lớp khá đông những nhà nho quá sùng bãi chữ Hán.
Trào lƣu này đã đƣa tiếng Việt đến những bƣớc tiến rõ rệt. Kho từ vựng tăng lên, giàu có hơn. Bộ phận nền tảng của nó là những từ gốc Việt. Đó là những từ một âm tiết, nhƣ: đất, ngƣời, trăng, đẹp, vui.
và những từ hai tiếng đƣợc cấu tạo theo quy tắc phối hợp âm thanh nhƣ: long lanh, ngậm ngùi. hoặc quy tắc phối hợp nghĩa, nhƣ: vuông tròn, mây gió. Nó cũng tiếp nhận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 và đồng hoá nhiều từ gốc Hán. Có những từ một tiếng gốc Hán đã đƣợc đƣa vào tiếng Việt từ rất xƣa, và đƣợc Việt hoá hoàn toàn, nhƣ: tuổi vốn là gốc ở âm của chữ Hán "tuế"; buông gốc ở âm cổ của chữ Hán "phóng".
Ngoài ra, còn có những từ một tiếng hay hai tiếng gốc Hán đã đi vào tiếng Việt ở thời kì sau và chủ yếu theo con đƣờng sách vở. Đó là những từ thi ca, nhƣ: phong, hoa, tuyết, nguyệt, tài tử, giai nhân. và những từ văn hoá, chủ yếu về đạo lí, triết lí, nhƣ: nhân, nghĩa, trung, hiếu, bạc mệnh, tang thƣơng. Nói về cách đặt câu, cách làm thơ, thì qua trào lƣu văn học chữ Nôm, rõ ràng là tiếng Việt đã đạt tới trình độ điêu luyện hơn, mà vẫn bền vững, nhuần nhuyễn tính cách Việt Nam.
Những tác phẩm nhƣ Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều. chứng tỏ rằng tính cách ấy ngày càng đậm đà và có tác dụng sâu sắc. Ngƣời Việt Nam chúng ta yêu mến, quý trọng nó là yêu mến và quý trọng bản sắc của ngôn ngữ, của văn hoá dân tộc. Tƣ tƣởng và tình cảm này có hiệu lực đặc biệt quan trọng trong sự bồi dƣỡng và phát huy tinh thần dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Tiếng Việt ở giai đoạn dùng "chữ quốc ngữ" Từ đầu thế kỉ 20 về sau, tiếng Việt dần dần đƣợc dùng trong mọi thể loại văn học, mọi địa hạt văn hoá, khoa học, kĩ thuật. Nó phát triển thành ngôn ngữ văn học toàn diện.