đặt vấn đề phụ nữ một cách biệt lập, coi phụ nữ là nhóm đặc thù và đưa ra những giải pháp đặc thù dành riêng cho phụ nữ. Bên cạnh đó, WID dựa trên quan niệm cho rằng, các vấn đề phát triển sẽ tốt hơn nếu đảm bảo sự tham gia đầy đủ của phụ nữ vào phát triển, và chỉ nhìn nhận vai trò và vị trí của phụ nữ trong quá trình phát triển chứ chưa coi phụ nữ là chủ thể của sự phát triển (Nguyễn Thị Diễn, 2015). Giới và phát triển (GAD), xuất hiện từ khoảng những năm 1980, đã dịch chuyển từ khái niệm ‘phụ nữ’ sang khái niệm ‘giới’, một trong những yếu tố quan trọng nhất của GAD. Phương pháp này đặt trọng tâm vào ‘cấu trúc xã hội cơ bản của sự khác nhau gữa nam giới và nữ giới’; Thử thách mối quan hệ về giới khi đó (Reeves and Baden, 2000); Và thúc đẩy giải phóng phụ nữ (Tasli, 2007).
Giới được xem xét trong mối quan hệ xã hội, sự liên hệ giữa nam giới và nữ giới, hơn là chỉ tập trung vào giới nữ (Razavi and Miller, 1995). Hơn nữa, nó cũng làm rõ nhu cầu cần có sự tham gia của nam giới trong việc cải thiện vai trò của người phụ nữ trong hoạt động kinh tế xã hội. Trong phương pháp tiếp cận này, phụ nữ nên tham gia vào quá trình ra quyết định như một nhân tố chủ động, tích cực. Một chiến lược quan trọng của GAD là xu hướng giới chủ đạo xác định vấn đề lồng ghép giới ở mọi cấp độ phát triển và lĩnh vực công (Reeves and Baden, 2000).
Nếu WID hướng vào sự phát triển với hiệu quả cao đối với các dự án của phụ nữ thì GAD hướng vào sự phát triển bền vững, cân bằng giới và các dự án phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của cả phụ nữ và nam giới. Tuy nhiên, trong các dự án phát triển thực tế thường có cả 2 xu hướng của WID và GAD (Reeves and Baden, 2000). Trong đề tài nghiên cứu này, khái niệm phụ nữ được hiểu là toàn bộ thành viên nữ trong độ tuổi lao động tham gia sản xuất, tiêu thụ của hộ. Tăng trưởng và phát triển a.
Tăng trưởng Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự vật nhất định. Trong kinh tế, tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn trước về sản phẩm hay lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động (Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà, 2005). Khái niệm tăng trưởng kinh tế được Viện Chiến lược phát triển định nghĩa: “Tăng trưởng kinh tế là mức tăng lượng của cải (tài sản) trong một thời kỳ 7 c nhất định”; “Khái niệm tăng trưởng kinh tế này có thể áp dụng cho mọi quy mô, cấp độ, cho toàn nền kinh tế, cho từng ngành, cho các doanh nghiệp, cho cấp độ hộ gia đình và cấp độ cá nhân. Tăng trưởng kinh tế có thể hiểu như kết quả của mọi hoạt động kinh tế trong các lĩnh vực sản xuất cũng như trong lĩnh vực dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định.
Lượng của cải có thể được tính bằng hiện vật hay bằng tiền. Để phản ánh mức độ tăng trưởng của một thời kỳ, người ta thường dùng giá trị tuyệt đối của các đại lượng để so sánh chúng với nhau. Chênh lệch giữa các thời điểm chính là mức tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ cụ thể. Ngoài ra tăng trưởng kinh tế còn được phản ánh bằng tốc độ gia tăng của các đại lượng trong các giai đoạn với nhau và được đo bằng phần trăm thay đổi, giá trị phần trăm cao hay thấp thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm” (Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà, 2005).
Phát triển Theo lý thuyết về sự phát triển thì nghĩa chung nhất của sự phát triển là tăng nhiều hơn về mặt số lượng, phong phú hơn về mặt chủng loại và chất lượng, phù hợp hơn về mặt cơ cấu và phân bố. Phát triển còn là sự tăng lên bền vững về các tiêu chuẩn sống. Có thể nói phát triển là bao hàm ý niệm về sự tiến bộ, bởi vậy phát triển nghĩa là sự tăng trưởng cộng với sự thay đổi về cấu trúc và thể chế liên quan đến mục đích hay mục tiêu chủ định nào đó. Phát triển theo khái niệm chung nhất là việc nâng cao hạnh phúc của người dân, bao hàm nâng cao các chuẩn mực sống, cải thiện các điều kiện giáo dục, sức khỏe, sự bình đẳng về các cơ hội.
Như vậy, nhìn chung phát triển và sự tăng trưởng được coi như đồng nghĩa với nhau, tuy nhiên tăng trưởng mới chỉ là điều kiện cần, song chưa phải là điều kiện đủ vì nó chỉ đề cập đến việc tăng lên về phúc lợi kinh tế mà chưa nói đến các phúc lợi xã hội. Chúng ta có thể tạo ra được những thay đổi, nhưng sự thay đổi theo chiều hướng tăng trưởng mới chỉ là tiền đề cho sự phát triển, không phải bất kỳ sự thay đổi nào cũng có sự phát triển. Đánh giá sự phát triển cần phải xem xét vấn đề một cách toàn diện. Các giải pháp phát triển không chỉ chú ý đến việc tăng trưởng kinh tế của ngành sản xuất này mà còn phải chú ý cả đến các vấn đề nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm, trên cơ sở bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái và đảm bảo sức khỏe cho con người (Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà, 2005).
8 c Theo Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà (2005) các chỉ tiêu thể hiện sự phát triển: Gồm các chỉ tiêu phản ánh về mặt số lượng và các chỉ tiêu phản ánh về chất lượng. Các chỉ tiêu số lượng thể hiện sự phát triển với một nền kinh tế là sự gia tăng của cải vật chất và dịch vụ. Sự phát triển của ngành sản xuất về số lượng là quy mô sản xuất, sự tăng trưởng về số lượng và giá trị sản lượng sản xuất ra, cơ cấu sản xuất nội bộ ngành và với các ngành khác… Các chỉ tiêu chất lượng thể hiện sự phát triển của một nền kinh tế là sự tiến bộ về đời sống vật chất, giáo dục, sức khoẻ và môi trường. Với một ngành sản xuất đó là việc phát huy và khai thác có hiệu quả các tiềm năng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất ra, tổ chức quy trình sản xuất hợp lý… Các yếu tố mang tính quyết định sự phát triển của ngành sản xuất trong một nền kinh tế là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất phải tiên tiến hiện đại, là việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và khoa học công nghệ phù hợp vào sản xuất, là việc thực hiện đồng bộ các công cụ tài chính, pháp luật, chính sách, tổ chức… , đảm bảo cho các ngành kinh tế phát triển.
Phát triển nhãn lồng Từ khái niệm chung về phát triển, chúng ta có thể hiểu phát triển nhãn lồng chính là sự tăng lên trong sản xuất và tiêu thụ về quy mô, sự tăng số lượng của các hộ sản xuất và tiêu thụ, đồng thời là sự tăng về giá trị sản lượng tạo ra, nhu nhập của người lao động. Chính vì vậy, phát triển nhãn lồng yêu cầu cần sự tăng trưởng ngành nghề này phải đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường (Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà, 2005). Phát triển bền vững là quan niệm mới của sự phát triển mà tại đó quá trình sản xuất được lồng ghép với bảo tồn tài nguyên; nâng cao chất lượng về môi trường đồng thời bảo đảm những nhu cầu hiện tại mà không xâm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của tương lai. Tăng thu nhập kết hợp với chính sách môi trường và thể chế vững chắc là cơ sở cho việc giải quyết cả hai vấn đề môi trường và phát triển.
Trọng điểm của phát triển bền vững là sản xuất khác đi, sản xuất phải song hành với việc tiết kiệm các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường chứ không phải sản xuất ít đi (Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà, 2005). Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển nhãn lồng chính là yêu cầu sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch, sử dụng các nguồn lực như tài nguyên 9 c thiên nhiên (đất – nước), lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất đảm bảo hợp lý có hiệu quả, nâng cao mức sống cho người lao động, không gây ô nhiễm môi trường, giữ gìn thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc,. Mỗi ngành nghề phát triển đều có đặc điểm riêng, các đặc điểm đó ảnh hưởng đến hiệu quả và kết quả sản xuất cũng như việc xác định kết quả và hiệu quả của ngành đó. Nhãn lồng ở Khoái Châu là sản phẩm mang lại lợi ích kinh tế cho người dân nông thôn tại đây, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội khu vực.
Để đánh giá trình độ tổ chức, sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất và tiêu thụ của các cơ sở cũng như các hộ làm nghề chúng ta sử dụng thước đo hiệu quả kinh tế. Đó chính là hiệu quả sản xuất được phản ánh bằng tỷ lệ so sánh giữa chi phí bỏ ra để đầu tư cho sản xuất và thu nhập do bán sản phẩm mang lại. Hiệu quả ấy được phản ánh qua các chỉ tiêu: thu nhập của một công lao động, thu nhập từ một đồng chi phí bỏ ra hay thu nhập được từ một đồng tài sản cố định được đầu tư vào sản xuất (Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà, 2005). * Sản xuất Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người, bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người.
Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Ăngghen: “điểm khác việt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lại sản xuất” (C. Yếu tố đầu vào Chuyển hóa Đầu ra - Công nghệ, Khoa học - Sản phẩm kỹ thuật - Biến đổi sản phẩm - Dịch vụ - Vốn - Tăng thêm giá trị - Nguyên vật liệu - Nhân lực Thông tin phản hồi Sơ đồ 2. Quy trình sản xuất Nguồn: Nguyễn Tuấn Hùng (2017) 10 c Sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu tô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các yếu tốt khác để thành các yếu tố đầu ra như sản phẩm, dịch vụ.