CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN 1. Khái niệm, mục đích, nguyên tắc và ý nghĩa phòng ngừa tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện 1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện Ở nước ta, ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác PNTP. Cụ thể, riêng trong công tác tư pháp (xét xử), Người đã từng nói “Xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn”[16.
Câu nói này của Người đã thể hiện phương châm rất quan trọng trong đường lối xử lý tội phạm Nhà nước ta - lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là phòng, chống tội phạm tốt. BLHS năm 2015 thể hiện tinh thần “chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hóa, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội. Ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm” [17, tr. Quan niệm về PNTP được GS.
Nguyễn Xuân Yêm dẫn ra như sau: “Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp có quan hệ tác động lẫn nhau, được tiến hành bởi cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm” [62, tr. Quan điểm khoa học trong sách báo pháp lý một số nước đều thống nhất cho rằng: “Phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm.” hay “không để cho tội phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thủ tiêu nguyên nhân và kiểm soát được tội phạm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, cũng như có các biện pháp cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội và cho cộng đồng. Một quan điểm khác cho rằng PNTP được hiểu theo hai nghĩa: “Theo nghĩa 8 rộng, phòng ngừa tội phạm bao hàm, một mặt không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện phạm tội và bằng mọi cách để ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Còn theo nghĩa hẹp, phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, không để cho tội phạm gây hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên nào của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội” [19, tr.
Mong muốn của xã hội là không để cho bất kỳ người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật, phạm tội, chính vì vậy cần phải thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa, trong đó phải hiểu được tâm – sinh lý của người dưới 18 tuổi nói chung và của người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật, phạm tội nói riêng. Mặt khác, nếu phòng ngừa tốt, làm giảm tình trạng phạm tội, không để tội phạm xảy ra cũng là ngăn chặn được hậu quả tiêu cực về mọi mặt do tội phạm gây ra, đồng thời góp phần làm giảm các chi phí cần thiết của Nhà nước, của nhân dân trong việc điều tra làm rõ tội phạm, các chi phí trong quá trình truy tố, xét xử tội phạm cũng như các chi phí khác cho công tác khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra, trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân. Võ Khánh Vinh: “Công tác đấu tranh với tình hình tội phạm có hai phương hướng có tác động chặt chẽ với nhau: phòng ngừa và việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm, việc bảo đảm không thoát khỏi hình phạt, giáo dục lại, cải tạo những người phạm tội. Các biện pháp pháp lý - hình sự của cuộc đấu tranh với tình hình tội phạm được đưa lên hàng đầu trong những trường hợp chuẩn bị và thực hiện các tội phạm cụ thể.
Việc phòng ngừa ở nghĩa đen, tức là việc khắc phục hoặc làm vô hiệu các nguyên nhân và điều kiện của các tội phạm trước khi nó gây ra việc thực hiện tội phạm, đóng vai trò cơ bản, quan trọng trong công tác đấu tranh với tình hình tội phạm” [58, tr. PNTP là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp để ngăn chặn không cho tội phạm phát sinh, phát triển nhằm xóa bỏ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, không để tội phạm xảy ra gây hậu quả thiệt hại cho con người và cho xã hội. Nghị quyết 31/NQ-BCT của Bộ Chính trị cũng đã chỉ rõ: Một trong những nguyên tắc chỉ đạo đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm an ninh chính trị và giữ gìn trật tự an 9 toàn xã hội là: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, sử dụng đồng bộ các biện pháp nhằm tích cực xây dựng, chủ động phòng ngừa, chủ động tấn công và tiến công liên tục làm tan rã bọn phản cách mạng và bọn tội phạm khác”. Thực tiễn công tác PNTP trong thời gian qua chỉ ra rằng không phải chỉ bắt giam nhiều và xử phạt tù với mức án cao, kế cả mức án cao nhất thì tội phạm sẽ giảm mà phải phát động cho được phong trào quần chúng đấu tranh phòng chống tội phạm, huy động cho được sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, của toàn xã hội, của từng hộ gia đình, của từng công dân tự giác tham gia và phải lấy phòng ngừa làm chính, lấy giáo dục cảm hóa lao động cải tạo làm chính thì mới là nhân tố, giải pháp cơ bản có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh phòng chống tội phạm; Nghị quyết số 40-NQ/TW, ngày 08 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác công an trong tình hình mới cũng đã có quan điểm chỉ đạo lực lượng CAND là “huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, sức mạnh của toàn dân, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự.”, “Trong đấu tranh chống các thế lực thù địch, các loại tội phạm, phải chủ động tấn công và tích cực phòng ngừa, không để bị động, bất ngờ; lấy giữ vững bên trong là chính, kịp thời phát hiện và ngăn chặn những nhân tố có thể dẫn đến những đột biến bất lợi; không để hình thành tổ chức chính trị phản động, không để xảy ra biến động chính trị - xã hội, bạo loạn”.
Người dưới 18 tuổi là những người đang ở lứa tuổi phát triển vể mọi mặt đây là lứa tuổi chưa có đủ kinh nghiệm sống, quá trình nhận thức còn hạn chế; chủ quan nông cạn khi phân tích, đánh giá hay nhìn nhận các sự việc hiện tượng, dễ bị tác động bởi các yếu tố của môi trường sống. Hơn nữa với đặc điểm tâm lý ở người dưới 18 tuổi, các em dễ bị xúc động và hiếu động, có tính hiếu thắng, thích mạo hiểm và luôn tỏ ra mình là người can đảm, dũng cảm, không chịu thua kém bất cứ ai, xem thường các nội quy, yêu cầu đặt ra của gia đình, nhà trường và xã hội. Người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm là những người ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn bị hạn chế, nhiều khi họ còn bị tác động mạnh của những điều kiện bên ngoài. Do vậy chính sách hình sự của Nhà nước ta chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai 10 lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Thủ tục tố tụng áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội và tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà BLHS và BL TTHS đã quy định. BLHS sửa đổi bổ sung năm 2015 quy định một chương riêng (Chương XII, Những quy định chung) áp dụng đối với những người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều 90 BLHS năm 2015 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo những quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với những quy định tại Chương này”. Như vậy, người dưới 18 tuổi phạm tội chịu trách nhiệm hình sự không giống những người trên 18 tuổi cùng thực hiện một hành vi phạm tội và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như nhau.
Trong độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi là những người đã có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, nhưng trên thực tế xét xử đối với những đối tượng phạm tội, thì người ở độ tuổi này mới chỉ nhận thức được tính chất nguy hiểm đối với một số hành vi nghiêm trọng như: Trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, cướp tài sản…còn đối với những hành vi đặc biệt nghiêm trọng thì nhận thức của họ còn hạn chế, thậm chí nhiều khi chưa nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm của hành vi do mình thực hiện như: giết người, hiếp dâm. Độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi thì tâm sinh lý phát triển hơn, thể chất và tinh thần hoàn thiện hơn ở đội tuổi dưới 16. Tuy nhiên, ở độ tuổi này, so với người phạm tội từ 18 tuổi trở lên thì họ vẫn còn nhận thức nông nổi, kinh nghiệm sống chưa nhiều và do trình độ nhận thức còn hạn chế, họ còn nhiều cơ hội để làm lại cuộc đời, nếu họ được giáo dục cải tạo tốt. Do đó những người trong độ tuổi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình theo các quy định tại Chương XII, Do quy định chung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với khoa học hình sự, khoa học tâm lý tội phạm và thực tiễn hiện nay.