mở đầu có tựa đề Một thời đại trong thi ca, với con mắt tình đời của nhà phê bình văn học tài hoa và xuất chúng, tác giả Thi nhân Việt Nam đã khái quát về phong cách văn học của phong trào Thơ mới trong mười năm đầu (1932-1941) và phong cách nghệ thuật của một số nhà thơ mới tiêu biểu như sau: “ Một thời đại vừa chẵn mười năm…Tôi quả quyết rằng trong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại nào phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng 16 mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” Như vậy, từ việc điểm qua những ý kiến tiêu biểu về khái niệm phong cách đã cho phép chúng ta nhận diện một cách đầy đủ hơn khái niệm phong cách nghệ sĩ. Từ các ý kiến đó, chúng ta có thể rút ra một số kết luận sau: 1- Phong cách thể hiện một cách nhìn mới mẻ, cách trình bày và kiến giải độc đáo những vấn đề mà nghệ sĩ quan tâm thông qua những hình tượng nghệ thuật đặc sắc. 2- Nghiên cứu phong cách là nghiên cứu hình thức phù hợp với nội dung, hình thức bao giờ cũng phải mang tải, chứa đựng một nội dung tương ứng.
3- Dĩ nhiên, sự “phù hợp”, “kết hợp” trên đây phải làm hiện lên sự thống nhất tất cả mọi dáng vẻ độc đáo của nhà văn. Giữa phong cách và phương pháp sáng tác có sự khác biệt cần nhận thấy. Nói đến phương pháp sáng tác là nói đến chân lý nghệ thuật, chiều sâu nhận thức về chất lượng lí tưởng, nói đến những giai đoạn phát triển trong lịch sử văn nghệ; còn nói đến phong cách là nói đến đặc sắc riêng của nhà văn. Phong cách hiện ra như một phẩm chất, nó kết hợp một cách biện chứng hàng loạt những yếu tố khác nhau như thế giới quan, vốn sống, trình độ văn hóa, năng khiếu nghệ thuật, đặc biệt là cá tính sáng tạo.
Gần đây, người ta thường nói đến sự gần gũi giữa thi pháp và phong cách. Khrápchencô cho rằng khái niệm thi pháp rộng hơn khái niệm phong cách, nó có thể bao hàm cả phong cách sáng tạo. Vì thế, trong luận văn, chúng tôi cố gắng sử dụng những hiểu biết có thể của mình để tìm hiểu kỹ hơn về phong cách thơ Vân Long. Hành trình sáng tạo của nhà thơ Vân Long Các chặng đường thơ của Vân Long trải dài theo hành trình sống phong phú của một con người tài hoa mà tính tình lại mực thước, lặng lẽ.
Năm nay đã gần 80 tuổi, Vân Long vẫn tiếp tục cuộc hành trình duyên nợ, ông có cái nhìn lão thực về vị thế khiêm tốn của mình: “ Tôi là loài cá ăn chìm / Thơ và đời lặng lẽ…” Vâng, lặng lẽ nhưng quyết liệt, như những ngọn cây cứ “Sục tìm trong khoảng biếc” thi ca! Theo thống kê sơ bộ hiện nay nhà thơ Vân Long, là tác giả của 34 đầu sách, gồm thơ 11 cuốn, chân dung, tiểu luận, biên soạn 12 cuốn và sách cho thiếu nhi 11 cuốn. Con số đó kể cũng đáng nể ở nước ta, tuy vậy ông vẫn không dừng ở đó mà vẫn miệt mài với hành trình của mình. Nhìn lại chặng đường thơ của ông có thể chia ra làm hai chặng: Chặng thứ nhất từ năm 1954- 1980 và chặng hai từ năm 1980 đến nay. Với những tập thơ tiêu biểu như: Tia nắng (1962), Qua những miền đất (in chung năm 1980), Gió và lửa (in chung năm 1983), Vào thu (1990), Những khối hình câm (1993), Dưới lá xanh (1999).
Nhà thơ Vân Long sinh ngày 6/3/1934 tại Hà Nội, xuất thân là một thanh niên tầng lớp trung lưu. Ông có một cuộc đời với khá nhiều thăng trầm. Năm 1945, Vân Long lúc đó là chú bé 11 tuổi, nhờ sớm được sinh hoạt trong một đoàn Hướng Đạo có các huynh trưởng đang hoạt động bí mật chống Pháp Nhật, các anh tận dụng những buổi hội họp, đi cắm trại mà giác ngộ cho lứa trẻ mới vào Đoàn về tinh thần yêu nước. Chú bé đã say mê hòa vào dòng người dự các cuộc mít tinh từ những ngày Hà Nội sục sôi cướp chính quyền 19 tháng Tám, dự cuộc mít tinh lớn nghe bác Hồ đọc tuyên ngôn Độc Lập 2-9.
Khi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Vân Long đang trong hoàn cảnh gia đình éo le: Bố mẹ ly hôn từ khi anh vừa lọt lòng. Rồi bố mẹ anh đều lập gia đình riêng, hai chị em anh được bà ngoại nuôi cho ăn học. Nhưng tình thế buộc người dân Hà Nội phải tản cư về các vùng quê, bà ngoại 18 anh già yếu buộc phải trả anh về với gia đình bố để anh tiếp tục được ăn học ở vùng quê kháng chiến. Nhưng ở một gia đình đông con, anh có tới 8, 9 người em cùng cha khác mẹ.
Gia đình khi đã cạn nguồn sinh sống, buộc phải “dinh tê” Hà Nội. Khỏi phải nói, Vân Long sa vào hoàn cảnh…như một “ốc đảo” giữa một gia đình lớn chưa quen thuộc, kể cả người cha mà lúc ấy anh mới biết mặt. Về Hà Nội, anh phải nghỉ học để giúp bố tiếp tục mở hiệu sản xuất chè gói và quản lý một hiệu may cho các em được ăn học. Một ngày làm việc hàng chục tiếng trong tâm trạng buồn khổ vì không được học tiếp, tương lai rồi sẽ ra sao? Rồi hoài nhớ những lớp học cùng bạn bè vùng kháng chiến đến se thắt.
Rồi nỗi buồn một thiếu niên đang lớn dần vào tuổi thanh niên giữa một thành phố bị chiếm đóng, nhìn những cảnh trái tai gai mắt mà bất lực, anh như nạn nhân của mấy tầng bất công. Nhưng, “cùng tắc biến”, anh tìm thấy nguồn an ủi trong việc gửi tâm trạng mình trong những dòng thơ, và một thời gian ngắn, thơ anh được in trên các báo, nỗi buồn như được sẻ bớt. Anh được in bài thơ đầu tiên từ năm 16 tuổi (1949). Ảnh hưởng cái “sầu vũ trụ” của mấy nhà thơ đàn anh Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng đang làm báo ở Hà Nội lúc ấy, trong bài thơ đầu được in, có đoạn anh viết như một người già: “Đã một lần hơn tôi ước mong/ Địa cầu vụt nổ giữa hư không/ Cho tan những mối sầu nghìn kiếp/ Chuyện thế vơi đầy giây phút xong!” Từ đó đến tháng 10 -1954, anh có hàng dăm chục bài thơ in báo, kể cả một kịch thơ in trong giai phẩm Xuân Đẹp, cùng với những danh sĩ vùng tạm chiếm như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng.
Anh chuyển dần về bút pháp (già dặn hơn, thoát dần khỏi những ước lệ và khuôn sáo cũ), về tư tưởng và phong cách, anh đã được ảnh hưởng những nhà văn đàn anh mới rời kháng chiến về, như Sao Mai, Hoàng Công Khanh. Nhiều người “được phép” trở về Hà Nội để chữa bệnh, nhưng “tương kế tựu kế”, các anh đã hoạt động trí thức vận và 19 làm báo công khai. Cùng với những tin chiến thắng từ kháng chiến vọng về, bộ máy kiểm duyệt lơi lỏng dần, để Vân Long có thể in bài thơ Lửa Yên Khê trên báo Đời Mới (25 tháng 3 – 1954, xuất bản tại Sài Gòn). Với cuộc đời nhiều sóng gió như vậy nhưng bằng chính những cố gắng, nỗ lực của bản thân, ít ai ngờ sau này ông đã trở thành nhà thơ, chuyên viên biên tập thơ hàng chục năm ở NXB Hội Nhà văn, Chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Hà Nội một thời gian và đảm trách phần văn nghệ cho báo Sức khỏe và đời sống sau khi nghỉ hưu ở NXB Hội Nhà văn cho đến nay.
Trước và trong khi làm một nhà thơ ông đã từng là một diễn viên đàn violon trong dàn nhạc giao hưởng. Chính bản thân ông đã từng giễu mình khi bỏ giàn nhạc để chuyển sang làm thơ là chuyển từ một nghề “nghèo nhì” sang nghề “nghèo nhất”. Và phải chăng chính bởi gia cảnh xuất thân với nhiều trắc trở như vậy mà ông càng trở nên lặng lẽ, thâm trầm cả trong đời lẫn trong thơ. Nếu ai đã từng có dịp gặp gỡ hay tiếp xúc với nhà thơ Vân Long đều có một cảm nhận chung về vẻ điềm đạm, kiệm lời, có phần lặng lẽ.
Bởi lẽ ông thuộc lớp người cũ, vốn thích suy ngẫm nhiều hơn là nói ra thành lời, thích sự chiêm nghiệm, thấu đáo hơn là vẻ ồn ào, náo động của cuộc sống hiện đại. Nhà thơ luôn tỏ ra không bằng lòng với mình, không chịu yên vị, luôn trăn trở làm mới thơ mình. Ông luôn linh hoạt, biến hóa qua các đề tài, hình thức, để không lặp lại chính mình. Vân Long là tạng người thơ không chịu cũ.
Nhà thơ luôn ý thức được việc làm mới mình để có thể đồng hành cùng với nền thơ đương đại và nhịp thở nóng hổi của cuộc sống thường nhật. Dù trữ tình hay tự sự, hướng nội hay hướng ngoại, thơ Vân Long luôn để lại những dấu ấn sáng tạo – dấu ấn lao động trong thơ góp phần đem đến sự đa dạng, nhiều màu sắc trong nền thơ ca dân tộc.1 Chặng thứ nhất Vân Long bắt đầu sáng tác và có thơ in báo năm ông 16 tuổi. Mười năm từ những sáng tác ban đầu, kết tinh lại trong tập thơ Tia nắng 1962- NXB Văn học, tập thơ in riêng đầu tiên như tấm bằng chứng nhận một tác giả đã sớm có phong cách riêng. Ở chặng thơ này cùng với đất nước, năm 1965 là năm biến động lớn trong đời thơ Vân Long.
Một tháng sau khi cưới vợ, ông phải chuyển công tác xuống Hải Phòng để lại người vợ trẻ ở Hà Nội. Rồi mười năm chiến tranh ác liệt nhất của thành phố Cảng là mười năm ông sống đơn lẻ viết và sáng tác. Có thể nói Vân Long là người làm chủ được cuộc sống tinh thần của mình, dù trong biến động nào, vẫn là con người điềm tĩnh, mực thước, hết lòng với công việc, có trách nhiệm với thơ, sáng tác cũng như nghiên cứu… Đấy là mẫu mực của một nhà thơ- gắn bó đời thơ với Đất nước, đứng ở vị trí người công dân tận tụy, gương mẫu, sáng tạo. Trong chặng thơ này, Vân Long trải qua rất nhiều vùng đất, dấn mình trong gió và lửa của cuộc sống, nhưng để lại những ấn tượng mạnh mẽ hơn cả vẫn là mảng thơ viết về Hải Phòng.
Vân Long đã đưa lên được những ký họa, khắc được những nét sắc cạnh về cuộc sống bề bộn và năng động, cái dáng vóc vạm vỡ và dầu bụi của thành phố Cảng trong khói lửa chiến đấu ác liệt với máy bay Mỹ.