phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: (CHUONG 1: NHUNG VAN DE CO SO LIEN QUAN DEN DE TAL CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIÊM TỪ NGỮ TRONG CA KHUC TRINH CÔNG SƠN CHUONG 3: CAC BIEN PHAP TU TU TRONG CA KHUC TRINH CONG SON CHUONG 1 NHUNG VAN DE CO SG LIEN QUAN DEN ĐÈ TÀI 1. Một số vấn đề lí luận về phong cách nghệ thuật 1. Khái niệm phong cách “Thuật ngữ phong cách có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ. Người Hy Lạp dùng từ “Stylos" để chỉ một cái que đầu nhọn, đầu tù.
Người La Mã thì gọi là “Stylus” cũng đề chỉ cái que đó nhưng đầu nhọn dùng để viết và đầu tù dùng để xóa trên một tắm bảng nhỏ có xoa sáp. Về sau người Pháp dùng từ. “Style” ban đầu có nghĩa là nét chữ, sau đó có nghĩa là bút pháp với những đặc điểm của ngôn ngữ. Trải qua một quá trình phát triển, thuật ngữ phong cách có nhiều cách hiều khác nhau.
Khrapchenkô quan niệm: Mỗi nhà văn có để tài đều đi tìm những biện pháp và những phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và những hình tượng của. mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép nhà văn đó làm cho những tư tưởng, những hình tượng trở thành hắp dẫn, dễ lôi cuốn và gần gũi với độc giả. Và điều đó cũng có nghĩa là nhà văn tạo được phong cách của mình [38, 152]. ‘Theo Phan Ngọc: “Phong cách là một cấu trúc hữu cơ tắt cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta một thời đại, một thể loại, một tác phẩm” [S1, 221 và một cách biểu hiện có khả năng làm phong phú thêm cách nhìn và cách biểu hiện nghệ thuật” [55, 150].
Phương Lựu quan niệm: Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẳm mĩ thể hiện trong sáng tác của các nhà văn ưu tú. Nó đòi hỏi, trước hết, nhà văn phải đem lại một tiếng nói mới cho. Nó không có tiếng nói ấy, thì dù vấn đề lập trường, vốn sống tự cho là đã giải quyết đến đâu chăng nữa thì tác phẩm của nhà văn cứ bị ào quên lãng [48, 483]. Theo cách hiểu như những định nghĩa của các tác giả trên thì thuật ngữ phong cách là chỉ nét riêng tiêu biểu của nhà văn trong sáng tác.
Tuy nhiên thuật ngữ phong cách còn có nhiều cách hiểu khác, trên nhiều lĩnh vực. Theo 7ừ điển tiếng Việt. Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên) thì thuật ngữ phong cách có ba cách hiểu. Thuật ngữ phong cách được.
hiểu theo cách thứ nhất: "Những lỗi, những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một người hay một loại người nào đó. Ví dụ như Phong cách lao động mới, Phong cách lãnh đạo, Phong cách quân. nhân, Phong cách sống giản dị” [58, 782]. Theo cách hiểu này thì thuật ngữ phong cách gắn liền với đấu ấn của một cá nhân hay một tập thể mà ở đó một.
cá nhân hay tập thể ấy đã tạo thành cái riêng của họ. Như khi nói đến phong cách của Hồ Chí Minh thì ta hiểu đó là sự giản dị, phong thái ung dung của Bác. Hay khi ta nói phong cách quân đội ta hiểu đó là tính kỉ luật, nghiêm túc. Thị it ngữ phong cách được hiểu theo cách hai: "Những đặc điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sĩ hay trong các sáng tác nói chung thuộc cùng một thể loại.
Ví dụ Phong cách của một nhà văn, Phong cách văn học nghệ thuật” [58, 782]. Theo cách hiểu này thì thuật ngữ phong cách chính là cái riêng trong sáng tác của một nghệ sĩ hay của các nghệ sĩ cùng một thể loại. Chẳng hạn Nguyễn Tuân trước 1945 là một nhà văn King mạn sáng tác theo ba nội dung lớn là đi tìm cái đẹp của quá B khứ, nói về đời sống trụy lạc và chủ nghĩa xê dịch. Sau 1945 Nguyễn Tuân là.
một nhà văn cách mạng, các sáng tác của ông ca ngợi xã hội mới, con người mới. Nhưng dù sáng tác theo đề tài nào thì ta vẫn thấy sự uyên bác trong kiến thức, gọt giữa trong cách sử dụng từ ngữ của ông. Hay cũng đồng thời là hai nữ sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam nhưng phong cách của Hồ Xuân Hương khác hẳn của bà Huyện Thanh Quan. Nếu như từ thuần Việt, đặc.
biệt là lớp từ láy, khẩu ngữ, lời ăn tiếng nói hàng ngày của dân gian có giá trị đặc biệt, làm nên phong cách độc đáo của bà chúa thơ Nôm thì từ ngữ Hán Việt cũng có vị trí tương tự như vậy tong thơ bà Huyện Thanh Quan. Có thể nói một trong những nét khác biệt tiêu biểu trong phong cách sáng tác của hai nữ sĩ này chính là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ. Một người là "bà chúa” thơ. Nôm, một người là “nữ tướng” từ Hán Việt.
Thơ bà Huyện Thanh Quan trang trọng, thanh nhã, cô kính, luôn gợi về niềm ưu hoài tiếc thương với một hình thức nghệ thuật chải chuốt, mẫu mực, thanh thoát nhẹ nhàng. Xuân Hương thiên về Nôm mà bóng bẩy, duyên dáng. Hay khi nói tới Nguyễn Công Hoan, Ngô Tắt Tố, Nam Cao. thì ta hiểu đó là các nhà văn thuộc dòng văn học phê phán.
Sáng tác của họ đều lấy từ hiện thực cuộc sống một cổ hai tròng của người nông dân Việt Nam trước 1945, bị ách đô hộ của thực dân phong kiến, bị bóc lột, đàn áp đến nỗi phải đi đến bước đường cùng không lối thoát khi mắt đi cả nhân hình lẫn nhân tính. Thuật ngữ phong cách theo cách hiểu thứ ba: “Dạng của ngôn ngữ sử dụng trong những yêu chức năng điển từ vựng, hình nào đó, khác với những dạng khác vẻ đặc đi ngữ pháp, ngữ âm. Ví dụ Phong cách ngôn ngữ khoa học, Phong cách chính luận, Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (58, 782]. Theo cách hiểu này thì thuật ngữ phong cách gắn liền với chức năng điển hình của một dạng ngôn ngữ nào đó.
4 Theo Hữu Đạt: “Thuat ngữ phong cách được dùng trong nhiều địa hạt nghiên cứu khác nhau và cả trong giao tiếp đời thường” [18, 16]. Như vậy thuật ngữ phong cách có nhiều cách hiểu khác nhau, quan trọng là cần hiểu thuật ngữ này theo cách nào hoặc ở phạm vi sử dụng nào. cho phù hợp. Tuy nhiên, phong cách có đặc điểm chung mà nhiều người đề cập tới như: Phong cách biểu hiện đặc điểm cá tính sáng tạo của người nghệ ĩ, là sự tổng hợp các đặc điểm nghệ thuật trong sự thống nhất với nội dung, là những đặc điểm có tính chất hệ thống vẻ tư tưởng và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sĩ so với những nghệ sĩ khác.
Chẳng hạn cũng đồng thời là nhà văn của dòng văn học hiện thực phê phán viết về đề tài người nông dân trước 1945, nhà văn Nam Cao mượn lời của nhân vật Hộ trong Đời. thừa để khẳng định quan niệm nghệ thuật của mình: *Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa. ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”.
Ông đã viết về người nông dân nhưng. không phải là sự bị bóc lột bởi sưu cao thuế nặng, cũng không ph: là sự bị bóc lột về sức lao động mà chính là bị tước đoạt quyền làm ngư: bị lăng nhục khi mắt đi cả nhân hình lẫn nhân tính nhưng họ vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp, lương thiện của người nông dân dù phải đánh đổi bằng cả mạng sống. “Chính điều này khẳng định vị trí Nam Cao là một cây bút hiện thực phê phán xuất sắc của văn học Việt Nam. Phong cách không chỉ là dấu hiệu trưởng thành của người nghệ sĩ mà còn là bằng chứng của một nền văn học đã trưởng thành.
Nó là những đặc điểm riêng, bền vững, được hiểu qua tác phẩm và lặp đi lặp lại ở những tác phẩm của mỗi nhà văn. Nó thể hiện ở tư tưởng, kinh nghiệm sống, sở trường, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Mỗi nhà văn chỉ lựa chọn những tượng nào của cuộc sống đã được họ lĩnh hội. Tư tưởng tác phẩm là sự nhận 15 thức, lí giải và thái độ đối với toàn nội dung cụ thể, sống động, cũng như những vấn đề nhân sinh đặt ra trong đó.
Tuy nhiên, cái độc đáo, sing tao dé trở thành nét riêng của người nghệ sĩ không phải nhất thời mà phải xuất lên thường xuyên và có tính bền vững, nhất quán. Bền vững từ bên trong cốt lõi, còn triển khai thì luôn đổi mới. Sự đổi mới đó là sự lặp lại nhưng ở một trình. Xuân Diệu trước và sau cách mạng tháng Tám tuy thé giới quan khác nhau nhưng phong cách thơ ông vẫn luôn nỗng nàn say đắm, vẫn là ông hoàng của tình yêu với những vằn thơ thiết tha, rạo rực, băn khoăn.
‘Tom lại, phong cách là dấu hiệu tài năng, nét riêng của người nghệ sĩ. Nhưng không phải ng có phong cách riêng mà chỉ có những người có tài năng, có bản lĩnh mới có được phong cách riêng độc đáo. Nó giống như trên bàn tay của mỗi người đều có vân tay nhưng mỗi người lại có một đường chỉ tay khác nhau. Và nó chính là thước đo nghệ thuật để khẳng định tài năng, vị trí của người nghệ sĩ.
ặc điểm của phong cách nghệ thuật 1. Tính hình tượng Hầu như mọi công trình nghiên cứu khi bàn t phong cách đều phải nhận xét tới yếu tố ngôn ngữ, và xem đó là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hình thành phong cách nhà văn. Nói như Hàn Mặc Từ “Người thơ phong vận như thơ ấy”. Các đơn vị ngôn ngữ hoạt động trong phong cách nghệ thuật với chức năng nổi bật nhất là tính hình tượng.
Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật. Bắt cứ một sáng tác nghệ thuật nào ra đời trước hết cũng nhằm đem đến cho người đọc một sự chia sẻ, cảm. thông, làm cho người đọc có thể vui với cái vui của nhân vật, buồn với cái buồn của nhân vật. Muốn như vậy, người tạo lập văn bản nghệ thuật phải là người am hiểu cuộc sống, có vốn ngôn từ phong phú, có thể sử dụng các 16 phương tiện ngôn ngữ một cách tỉnh xảo với khả năng tác động được đến cảm.
xúc, suy nghĩ của người đọc.