CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI CHÍNH SÁCH AN TOÀN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1. Các vấn đề cơ bản về chính sách tiền tệ 1. Khái niệm về chính sách tiền tệ CSTT được xem là một trong những công cụ chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng. Theo đó, NHTW sử dụng các công cụ tác động đến lượng tiền cung ứng (hoặc lãi suất) để đạt được các mục tiêu kinh tế của quốc gia như bình ổn giá cả, công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế và các mục tiêu khác.
Căn cứ mức độ phát triển, mục tiêu kinh tế vĩ mô của từng quốc gia, chính sách tiền tệ được định nghĩa theo hướng khác nhau, phù hợp với đặc thù của từng nước. Về cơ bản, có thể giải thích CSTT thông qua một số định nghĩa được đưa ra bởi các nhà kinh tế học như sau: N.Gregory Mankiw (2009) định nghĩa: “CSTT là các quyết định điều hành của cơ quan chính phủ một nước (thường là NHTW) tác động đến lượng cung tiền (money supply) trong nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của chính phủ nước đó”. Theo Yeyati và Sturzenegger (2010) định nghĩa: “CSTT là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ, thường hướng tới một mức lãi suất mong muốn để đạt được mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế”. Quan điểm của Svensson (2012) cho rằng: “CSTT cần phải hướng tới ổn định giá cả và duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp để hỗ trợ cho mục tiêu kinh tế chung”.
Một số quan điểm lại cho rằng, CSTT nên có nhiều mục tiêu hơn là ổn định lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp hay tăng trưởng kinh tế. Nhưng nếu hướng đến nhiều mục tiêu và không rõ ràng sẽ làm cho CSTT rời rạc, trong khi CSTT đòi hỏi phải có mục tiêu rõ ràng. Điều này đảm bảo cho CSTT không độc đoán và có thể đánh giá dựa vào mục tiêu ban đầu. Có thể bỏ qua mục tiêu ổn định giá cả và duy trì việc làm ở mức cao nhất trong một thời gian ngắn nếu có những dấu hiệu rõ ràng của nền tài chính ổn định.
Nếu không có dấu hiệu rõ ràng về vấn đề tài chính ổn định tại thời điểm hiện tại, cần đưa ra các biện pháp để duy trì ổn định tài chính. Như vậy, CSTT liên quan đến các hành động của NHTW thông qua việc quản lý cung tiền, lãi suất nhằm đạt được các mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô. Mục tiêu của chính sách tiền tệ Mục tiêu cuối cùng của CSTT là đạt được mục tiêu quốc gia, đó là việc làm, sản lượng và mức giá hay tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, NHTW có thể không đạt được mục đích này một cách trực tiếp thông qua các công cụ của CSTT đó là những biến có thể tác động một cách trực tiếp.
Ngoài ra còn có mục tiêu hoạt động và mục tiêu trung gian. Biến mục tiêu hoạt động là những biến mà NHTW có thể tác động trực tiếp thông qua các công cụ được sử dụng. Các biến chỉ dẫn cung cấp những thông tin thời điểm hiện tại và tương lai của nền kinh tế. NHTW có thể sử dụng các công cụ để đạt được mục tiêu hoạt động của mình, thông qua mục tiêu trung gian, để đạt được mục tiêu cuối cùng.
Quá trình này được thể hiện qua hình sau: Công cụ Mục tiêu Mục tiêu Mục tiêu CSTT hoạt động trung gian cuối cùng Nghiệp vụ thị trường mở Dự trữ Cung tiền (M1,M2) Sản lượng Chính sách chiết khấu Tỷ lệ dự trữ của NHTW Lãi suất Lạm phát Dự trữ bắt buộc Việc làm Hình 1. Các công cụ và mục tiêu của chính sách tiền tệ Nguồn: (Mishkin, F. S 2013) * Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ Theo Miller và Vanhoose (2004), mục tiêu cuối cùng của CSTT là sản lượng, việc làm và lạm phát. Bên cạnh đó, Mishkin (2013) xem các mục tiêu CSTT có thể là ổn định giá cả, mức việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tài chính, ổn định lãi suất, ổn định thị trường ngoại hối.
Như vậy, nhìn một cách tổng thể, CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của một quốc gia, nên mục tiêu CSTT góp phần thực hiện các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là “mức sản lượng cao và tăng trưởng nhanh; tỷ lệ việc làm cao với mức thất nghiệp tự nguyện thấp nhất; ổn định giá cả”. Phần lớn NHTW các nước điều hành CSTT đều theo đuổi mục tiêu trên. Tùy thuộc vào đặc thù và mục tiêu của mỗi quốc gia, NHTW các nước thường 7 ưu tiên cho từng mục tiêu cụ thể khác nhau trong từng thời kỳ. Trong ngắn hạn, NHTW có thể theo đuổi chính sách đơn mục tiêu hoặc đa mục tiêu.
Điều này phụ thuộc nhiều vào mức độ và tính chất quan trọng của từng mục tiêu và khả năng đạt được mục tiêu của NHTW. Trong dài hạn, phần lớn NHTW các nước đều lựa chọn ổn định giá cả là mục tiêu chính do CSTT không thể tác động đến tăng trưởng kinh tế hay tạo nhiều việc làm trong dài hạn. Tuy nhiên, CSTT không phải là chính sách duy nhất để nền kinh tế đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô với mức tăng trưởng bền vững, công ăn việc làm cao và lạm phát thấp. Để đạt được điều đó phải phối hợp đồng bộ với chính sách khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách đối ngoại… Như vậy, mục tiêu cuối cùng của CSTT thường là ổn định hệ thống tiền tệ, hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững, ổn định giá cả hay là kiểm soát lạm phát ở mức mong muốn.
* Mục tiêu trung gian Mục tiêu trung gian là những biến số tiền tệ có thể đo lường được, NHTW có thể kiểm soát kịp thời và có tác dụng dự báo được mục tiêu cuối cùng. Thường được lựa chọn các biến số tiền tệ có mối liên hệ chặt với các biến số kinh tế vĩ mô như GDP, giá cả, tổng cầu,… Nói cách khác biến số tiền tệ đó có mối liên kết với mục tiêu hoạt động và có thể tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT. Các chỉ tiêu thường được sử dụng làm mục tiêu trung gian là tổng lượng tiền cung ứng (M2 hoặc M3) hoặc lãi suất thị trường (ngắn hạn, dài hạn). Ngoài ra, mục tiêu trung gian còn là các biến số tỷ giá hối đoái hay tổng dư nợ tín dụng cũng được áp dụng trong nhiều thập kỷ qua, qua đó cho thấy mỗi mục tiêu được lựa chọn gắn liền với những diễn biến kinh tế và thị trường tài chính trong từng giai đoạn phát triển, gắn liền với mục tiêu và giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.
Như vậy, để lựa chọn mục tiêu trung gian thích hợp, đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng về diễn biến kinh tế, tiền tệ hiện tại và dự báo tương lai và xác định rõ định hướng phát triển kinh tế trong ngắn hạn cũng như dài hạn. * Mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động là những biến tiền tệ mà NHTW có thể tác động hay kiểm soát một cách trực tiếp bằng các công cụ CSTT nhằm thay đổi mục tiêu trung gian, qua đó tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT. Mục tiêu hoạt động có vai trò quan trọng đối với việc điều hành CSTT, đây là điểm khởi đầu trong cơ chế truyền dẫn CSTT, là biến số chủ yếu để NHTW thực thi CSTT. 8 Mục tiêu hoạt động được chia làm hai loại giá cả tiền tệ hay lãi suất ngắn hạn và mục tiêu hoạt động là khối lượng tiền cơ sở: - Mục tiêu hoạt động theo giá cả tiền tệ, NHTW kiểm soát lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, tức là những thay đổi tạm thời cung và cầu tiền nhằm đạt được mục tiêu đảm bảo lãi suất ngắn hạn trên thị trường không xa rời lãi suất mục tiêu.
Thông thường NHTW quy định lãi suất trần và lãi suất sàn của NHTW trên thị trường liên ngân hàng nhằm tạo biên độ dao động cho lãi suất ngắn hạn trên thị trường theo mức mong muốn của NHTW, thông qua công cụ CSTT như nghiệp vụ thị trường mở,… Trong trường hợp việc thực thi CSTT hầu hết thông qua can thiệp trên thị trường ngoại hối hơn là việc điều chỉnh lãi suất thì tỷ giá được xem như là mục tiêu hoạt động; - Mục tiêu hoạt động theo khối lượng tiền tệ cơ sở (MB) tức là NHTW kiểm soát MB, hoặc các cấu phần của MB, chẳng hạn như tài sản có ngoại tệ ròng, tài sản có chứng khoán, tài sản có tín dụng chiết khấu, tài sản có khác ròng. Đối với mục tiêu giá cả tiền tệ, kiểm soát lãi suất sẽ có hiệu quả trong điều kiện thị trường tiền tệ phát triển - thị trường liên ngân hàng có tính thanh khoản cao và hiệu quả, hệ thống các NHTM tồn tại sự cạnh tranh, NHTW phải có tín nhiệm với các thành viên thị trường. Vì lãi suất chỉ có tính nhạy cảm cao trong môi trường như vậy, khi đó bất cứ thay đổi nhỏ trong cung tiền của NHTW sẽ tác động đến biến động lãi suất. Với mục tiêu theo khối lượng, điều kiện áp dụng có phần ngược lại, tức là có thể áp dụng trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thấp, nhất là trong điều kiện môi trường lạm phát cao.
Trong điều kiện như vậy, một điều kiện tiên quyết là giữa hệ số tạo tiền và hàm cầu tiền phải có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, và gắn với đó là mục tiêu trung gian là tổng phương tiện thanh toán hoặc tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Mục tiêu khối lượng có hiệu quả trong điều kiện như vậy là do có thay đổi khối lượng tiền mới tạo ra sự thúc đẩy tiền tệ trong cơ chế truyền dẫn CSTT. * Mối quan hệ giữa các mục tiêu của CSTT Mục tiêu của CSTT không phải lúc nào cũng nhất quán. Trong một số trường hợp, vẫn có những mục tiêu mâu thuẫn với nhau khiến cho việc theo đuổi mục tiêu này đòi hỏi có những mất mát nhất định với mục tiêu kia.
Mối quan hệ giữa mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp với mục tiêu ổn định giá cả là một minh chứng rõ rệt. Thứ nhất, để giảm tỷ lệ lạm phát, cần phải thực hiện CSTT thắt chặt. Dưới tác 9 động của chính sách này, lãi suất thị trường tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu và do đó làm giảm tổng cầu của nền kinh tế. Thất nghiệp vì thế có xu hướng tăng lên.