CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE PHÁP LUẬT VE PHI VÀ LỆ PHÍ TRONG NGAN SACH NHA NUOC 1. Khái quát về phi và lệ phí trong ngân sách nha nước Tại Việt Nam, trong quá trình chuyền đổi từ mô hình kinh tế Chính phủ đã thực hiện kế hoạch chuyên đôi, điều chỉnh cơ cấu cung ứng dịch vụ công từ hệ thống miễn phí sang hệ thống phải trả phí đối với một số dịch vụ công do cơ quan nha nước cung cấp. Ké từ thời điểm đó cho đến ngày nay, việc thu các loại thuế, phí này đã trở thành một nguồn kinh phí quan trọng, mỗi năm đóng góp hơn 30 nghìn tỷ đồng (tương đương 3% GDP) cho ngân sách Nhà nước [35] và có tác động mạnh mẽ đến cân đối ngân sách của đất nước. Quá trình chuyên đổi kinh tế này đã mang lại sự đổi mới và điều chỉnh cơ cấu trong cách thức tài trợ của nhà nước và cung cấp các dịch vụ công.
Sự điều chỉnh này đồng thời với việc tăng cường thúc đấy tài chính địa phương và tự chịu trách nhiệm về tài chính của chính quyền các cấp đối với các dịch vụ công cung cấp cho người dân.Điều này giúp thúc đây việc tối ưu hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời tạo thêm nguồn tài chính đa dạng để hỗ trợ các hoạt động phát triển đất nước. Việc lồng ghép việc thu phí và lệ phí vào cơ cầu ngân sách quốc gia đã tạo ra sự cân đối ngân sách, đảm bảo duy trì và cung cấp các dịch vụ công có chất lượng cho người dân, đồng thời đảm bảo tính bền vững và 6n định của ngân sách quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ và thành công, việc quản lý thu và sử dụng nguồn tài chính này một cách hiệu quả và minh bạch cũng còn nhiều thách thức. Điều này đòi hỏi phải có sự linh hoạt trong việc xác định chính sách thu phí, đảm bảo việc thu phí không ảnh hưởng tiêu cực đến những người có thu nhập thấp, đồng thời tạo cơ chế giám sát để đảm bảo việc sử dụng phi, tài chính công khai, minh bạch và hiệu quả.
Khái niệm, đặc điểm phí và lệ phí * Khái niệm phí và lệ phí Theo từ điển Luật hoc[27] thì Phí là khoản thu mà người thụ hưởng lợi ích phải nộp động dịch vụ của tô chức, cá nhân khác. do việc đầu tư, bảo dưỡng công trình công cộng, hoạt động của các tô chức. Phí gồm hai loại: phí nhà nước và phí xã hội. Trong lĩnh vực tai chính và ngân sách Nhà nước, hệ thống phí và lệ phí đóng một vai trò quan trọng trong việc cân đối nguồn thu va chi cua Nhà nước.
Phí nha nước là một loại khoản thu cua ngân sách Nha nước, có mục tiêu chính là dam bảo nguôn tài chính dé chi trả cho các hoạt động dau tư, bảo dưỡng, và duy trì các công trình công cộng quan trọng. Các khoản chi này liên quan đến việc duy trì hệ thống giao thông, cầu đường, công trình hạ tầng, và các hoạt động chính của Nhà nước. Phí nhà nước được quy định và thu bởi các cơ quan nhà nước có thâm quyền. Người nộp phí là tổ chức hoặc cá nhân có lợi ích trực tiếp từ việc sử dụng các công trình công cộng hoặc tham gia vào các hoạt động sự nghiệp do Nhà nước thực hiện.
Ví dụ điển hình bao gồm phí cầu đường hoặc phí học phí ở các trường công lập. Tổ chức và cá nhân nộp phí đều có quyền và nghĩa vụ yêu cầu người thu phí cung cấp chứng từ thu phí theo quy định của Bộ Tài chính. Đối với Phí xã hội là một khía cạnh khác của hệ thống phí và lệ phí. Nó thường áp dung cho các dich vụ mà người thụ hưởng lợi phải trả tiền cho người cung ứng dịch vụ.
Khác với phí nhà nước, phí xã hội không phải là nguồn thu trực tiếp cho ngân sách Nhà nước, mà thường dựa vào thoả thuận giữa người cung ứng và người thụ hưởng lợi. Điều này bao gồm các loại dịch vụ như dịch vụ y tế, giáo dục, vận tải, và nhiều lĩnh vực khác. Hệ thống phí và lệ phí là một phần quan trọng của việc quan ly tai chính và ngân sách Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển va duy trì hạ tâng cơ sở và các dịch vụ cân thiệt cho xã hội. Hiêu rõ hơn vê cơ câu và quy định của hệ thống này là một bước quan trọng trong việc hiểu về cách ngân sách Nhà nước hoạt động và ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta [32] Lệ phí là khoản thu mang tính bô trợ dé Nhà nước thực hiện các hoạt động quản lí nên không nhằm bù bù đắp toàn bộ chi phí quản lí nhà nước.
Trong quan hệ thu, nộp lệ phí, Nhà nước là chủ thể thực hiện các hoạt động quản lí làm phát sinh nghĩa vụ nộp lệ phí của người thụ hưởng kết quả của các hoạt động quản lí đó. Do mục đích thu không nhằm bù đắp toàn bộ chi phí quản lí nhà nước nên lệ phí không mang tính đối giá giữa Nhà nước và nguoi nop. Phan lớn mức thu các loại lệ phí được ấn định trước đối với từng công việc quản lí nhà nước. Việc ban hành và thực hiện quy định về Lệ phí tuân thủ quy định pháp luật cụ thể với một quy trình riêng biệt [32] Trước khi Luật Phí và Lệ phí năm 2015 được ban hành thì Pháp lệnh về Phí và Lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQHI0, ngày 28/08/2001, đã đề ra quy định về các khoản phí và lệ phí thuộc ngân sách nhà nước như sau: Phí được xác định là số tiền mà tổ chức hoặc cá nhân phải chỉ trả khi họ nhận được dich vụ từ một tổ chức hoặc cá nhân khác, những dịch vụ này đã được liệt kê trong Danh mục Phi di kèm theo Pháp lệnh.
Trong khi đó, Lệ phí, theo quy định trong pháp lệnh, có nghĩa là số tién mà tổ chức hoặc cá nhân phải nộp khi họ sw dụng dich vụ từ cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyên để thực hiện các công việc quản lý nhà nước, tat cả các loại dich vụ này đã được dua vào Danh mục Lệ phí được ban hành kèm theo Pháp lệnh. Cùng với sự phát triển của nhà thì vị trí, vai trò của Phí và lệ phí càng được quan tâm và hoàn thiện dé đảm bao cho quá trình áp dung trong thực tế thì Luật phi và lệ phí năm 2015 được ban hành. Theo quy định Điều 3, Luật phí và lệ phí quy định cụ thê như sau: Diéu 3. Giải thích từ ngữ Phi là khoản tiên mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyên giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí.
Còn lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật nay [09] Trên cơ sở kế thừa và phát triển thì quy định về phí và lệ phí càng được chú trọng. Tác giả hoàn toàn đồng ý với với khái niệm phí và lệ phí đã được cụ thé hóa tại quy định của Luật Phí và Lệ Phí 2015. Khái niệm nay đã thé hiện rõ tổng quan và nội hàm đối với khái niệm trong thực tế. Từ đó góp phần cho việc áp dụng trong thực tiễn đạt hiệu quả cao hơn.
* Đặc điểm phí và lệ phí Với tư cách là khoản thu NSNN, phí và lệ phí những đặc điểm sau: Thứ nhất, Phí và lệ phí là các khoản thu có tính chất bắt buộc đối với những chủ thể thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp và mà họ phải nộp tiền dé sử dụng hoặc tận hưởng những dich vụ này. Đây là một phan quan trọng trong hệ thống thu ngân sách nhà nước và tài chính của một quốc gia. Thông qua các quy định về Phí và Lệ Phí sẽ được sử dụng dé đảm bảo rằng nguồn tài chính cần thiết để duy trì và cung cấp các dịch vụ công cơ bản được huy động một cách công bằng và hiệu quả. Phí và lệ phí có tính chất bắt buộc, điều này có nghĩa rằng những người hoặc tô chức sử dụng dịch vụ đó phải trả một khoản tiền cố định hoặc biến đổi dựa trên việc sử dụng hoặc tiêu dùng dịch vụ.
Dù cho họ có sử dụng dịch vụ đó một lần hay thường xuyên, việc trả phí và lệ phí là một trách nhiệm giữa cá nhân, tổ chức và nhà nước. Mục tiêu của việc thu phí và lệ phí là tạo nguồn tài chính dé duy trì và phát triên các dich vụ công co bản ma Nhà nước cung cap, đông thời 10 đảm bảo tính công băng và tính hiệu quả trong việc phân phối gánh nặng tài chính. Tuy nhiên, quá trình áp dụng và quản lý các khoản phí và lệ phí đòi hỏi su công bằng, minh bạch và sự theo dõi chặt chẽ từ phía Nhà nước để đảm bảo rằng chúng không gây thiệt hại cho người dân và kinh tế nói chung. Thứ hai, Phí và lệ phí là các khoản thu mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Phí và lệ phí là những khoản tiền mà người nộp trả cho Nhà nước, tô chức hoặc cá nhân dé sử dụng dịch vụ cụ thể. Điều quan trọng là họ không chỉ đơn thuần chi trả mà đang nhận được một giá trị trong xứng thông qua các dịch vụ mà họ được cung cấp. Thay vì nhận lại tiền mặt, người nộp phí và lệ phí được hoàn trả thông qua việc sử dụng dịch vụ cụ thể. Ví dụ, khi họ trả phí dé vào hỗ bơi công cộng, ho có quyền sử dụng hồ bơi.
Nếu họ trả học phí đại học, họ có quyền tham gia vào các khóa học và nhận bằng cấp. Hệ thống phí và lệ phí có tính công bằng vì người nào sử dụng dịch vụ nhiều hơn thì phải trả nhiều hơn. Điều này đảm bảo rằng người dân đóng góp dựa trên mức độ sử dụng thực tế của họ và giúp phân phối gánh nặng tài chính một cách hợp lý. Hệ thống này có thể khuyến khích người nộp phí và lệ phí sử dụng dịch vụ một cách hiệu quả hơn và theo đúng mục đích.