mở đầu cho sự xuất hiện của báo chí quốc ngữ nước nhà, mà nổi bật là các tờ như: Nam Phong tạp chí (1919), Thực nghiệp dân báo (1920), Nam Kỳ kinh tế (1920), Thanh niên (1925), Tiếng dân (1927). Các tạp chí, nhà xuất bản sách tiếng Việt ngày càng nhiều hơn (Tạp chí Hữu Thanh, Nam Đồng Thư xã, Cường học thư xã, Quan Hải tùng thư. Các tác phẩm dịch thuật ra đời: dịch tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, chữ Nôm ra chữ quốc ngữ; ngược lại dịch tác phẩm tiếng Việt sang tiếng Pháp. Lực lượng sáng tác tân học đã mô phỏng theo các tác phẩm nước ngoài để sáng tác văn học cận hiện đại.
Từ các bài tường thuật, phóng sự, du ký, kể chuyện,… họ đã viết truyện ngắn, tiểu thuyết như Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, sáng tác kịch nói Chén thuốc độc của Vũ Đình Long… Có thể nói 3 thập niên đầu của thế kỷ XX là thời kỳ manh nha của nền văn học quốc ngữ. Đồng thời bùng nổ dòng Thơ mới với các nhà thơ nổi tiếng: Thế Lữ, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Tú Mỡ. Đây cũng là thời kỳ văn hóa dân tộc được bổ sung những ngành nghệ thuật mới gồm: hội họa, sân khấu và điện ảnh. Nghệ thuật hội họa xuất hiện những thể loại mới có nguồn gốc từ Phương Tây: Tranh sơn dầu, tranh bột màu.
Nghệ thuật sân khấu từ chỗ công diễn các vở kịch nói của Pháp mà khởi xướng là vở hài kịch Bệnh tưởng của Molière do Nguyễn Văn Vĩnh dịch và cho công diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội năm 1921 thì lối viết kịch bằng Việt ngữ bắt đầu có ở nước ta [2, tr. Như vậy là sau gần ba thế kỷ, thời gian tính từ khi cuốn từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes ra đời và hơn nửa thế kỷ sau khi Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược Việt Nam, người Việt Nam đã hoàn toàn chuyển sang dùng chữ quốc ngữ, chính thức không sử dụng chữ Hán của người Trung Hoa và chữ Nôm (là thứ chữ ghi âm tiếng Việt nhưng được sáng chế theo phương pháp hài thanh và hội ý của chữ Hán). Một số tờ báo quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX 1. Báo chí quốc ngữ ở Nam kỳ Năm 1865, vẫn đang còn trong quá trình thôn tính Nam kỳ, thực dân Pháp đã cho xuất bản tờ Gia Định báo bằng chữ quốc ngữ.
Gia Định báo Tờ Gia Định báo ra số đầu tiên vào ngày 15-4-1865, do một người Pháp là Ernest Potteaux làm Chánh tổng tài (có thể hiểu như chủ nhiệm kiêm chủ bút), tới năm 1869 thì chuyển sang cho một người Việt là Trương Vĩnh Ký làm chủ bút (cho tới ngày 31-12-1871) [72, tr. Gia Định báo ban đầu xuất bản mỗi tháng một lần, phát hành vào ngày 15 hàng tháng, sau đó tăng lên 2 lần trong tháng và cuối cùng mỗi tháng 4 kỳ, vào các ngày 1,8, 16 và 24 hàng tháng [63, tr. Thời kỳ đầu, Gia Định báo in 4 trang trên khổ giấy 32x25, trên đầu trang 1 có 3 chữ Gia Định báo được in bằng chữ Hán, bên dưới ghi “Tờ báo này mỗi tháng Tây cứ ngày rằm in ra một lần ai muốn mua cả năm phải trả 6 góc tư” (64, tr. Ban đầu, Gia Định báo có mục đích chủ yếu là công cụ thông tin của người Pháp ở Đông Dương với tư cách là một tờ công báo chuyên đăng các công văn, nghị định, thông tư của chính quyền thực dân.
Sau này, khi Trương Vĩnh Ký chính thức làm giám đốc, tờ báo mới được phát triển mục biên khảo, thơ văn, lịch sử. Gia Định báo cũng góp phần cổ động việc học chữ quốc ngữ và lối học mới, mở đường cho các thể loại văn xuôi Việt Nam in bằng chữ quốc ngữ, đặt nền móng cho sự hình thành báo chí Việt Nam. 12 z Gia Định báo, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam Mặc dù là một tờ công báo của chính quyền xâm lược nhưng trong lịch sử báo chí Việt Nam, có thể xem đây là tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam. Gia Định báo tồn tại khá lâu, số cuối cùng ra vào năm 1909 [67, tr.
Phan Yên Báo Sau Gia Định báo một thời gian, năm 1868, ở Nam kỳ xuất hiện tờ Phan Yên Báo, do Diệp Văn Cường làm chủ nhiệm [36, tr. Tuy nhiên, có một số tài liệu lại cho rằng tờ Phan Yên báo mãi đến năm 1898 mới được xuất bản, chủ nhiệm là Diệp Văn Cương [63, tr. Nông cổ mín đàm Tiếp đó, ngày 1-8-1901, tờ Nông cổ mín đàm (có tài liệu gọi là Nông cổ mính đàm, dịch nghĩa là “trò chuyện về nông nghiệp-kỹ nghệ bên bàn trà”) ra đời, xuất bản hàng tuần, ban đầu chủ nhiệm là Canavaggio, chủ bút là Dũ Thúc Lương Khắc Ninh. 13 z Sau đó chủ bút thay đổi nhiều lần, cuối cùng là Nguyễn Chánh Sắt.
Đến năm 1922, Canavaggio mất, Nguyễn Chánh Sắt kiêm luôn chủ nhiệm tờ báo. Về phương diện văn chương, tờ báo này còn rất thô sơ. Có thể tìm thấy trong tờ Nông cổ mín đàm mọi vấn đề liên quan đến canh nông hay kỹ nghệ như cao su, trà, cà phê. Thỉnh thoảng báo cũng đăng vài bài thơ do các độc giả gửi đến, bên cạnh kết quả cuộc xổ số kiến thiết [64, tr.
Báo ngưng xuất bản ngày 4-11-1924. Lục tỉnh tân văn Một tờ tuần báo khác cũng ra đời trong thời gian đầu thế kỷ XX là tờ Lục tỉnh tân văn, số đầu tiên ra ngày 14-11-1907, do Francois Henri Schneider, một chủ nhà in người Pháp sáng lập ra. Báo Lục tỉnh tân văn Chủ nhiệm Lục tỉnh tân văn là Pierre Jeantet, chủ bút là Trần Nhật Thăng, biệt hiệu Đông Sơ (tức Gilbert Trần Chánh Chiếu). Sau một thời gian, báo chuyển từ tuần báo sang xuất bản mỗi tuần ba số vào các ngày thứ hai, tư, sáu.
Về nội dung, Lục tỉnh tân văn cũng bắt đầu đa dạng hoá các thể loại với việc xuất hiện từ tin vắn tới tiểu thuyết, bao trùm nhiều vấn đề, cả trong nước lẫn ngoài nước như các tin thời sự liên quan đến Pháp, Đức, Nga. 14 z Đến ngày 3-10-1921, Lục tỉnh tân văn hợp nhất với Nam Trung nhật báo, một tờ tuần báo đã ra trước đó từ ngày 10-4-1917, lấy tên chung là Lục tỉnh tân văn. Chính tờ Lục tỉnh tân văn sau này còn có một ấn bản đặc biệt phát hành ở Bắc kỳ cũng do Francois Henri Schneider chủ trương, đó chính là ĐDTC. Lục tỉnh tân văn xuất bản tới năm 1944 mới chấm dứt [63, tr.
Báo chí quốc ngữ ở Bắc kỳ Đăng Cổ tùng báo Ở Bắc kỳ, báo chí quốc ngữ ra đời muộn hơn ở Nam kỳ. Trong thời kỳ đầu, chủ nhiệm báo bao giờ cũng phải là người Pháp thì mới được phép xuất bản. Một trong những tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ là tờ ĐCTB. Liên quan đến việc ra đời của tờ ĐCTB có hai cái tên: Đốc lý Hauser và chủ nhà in Francois Henri Schneider.
Ông Hauser là một trí thức Pháp đỗ cử nhân luật rồi đi học ngạch làm quan cai trị thuộc địa. Sang Việt Nam, ông Hauser được chính quyền Pháp bổ nhiệm làm công sứ Bắc Giang rồi được đề bạt lên làm Đốc lý thành phố Hà Nội.Schneider sang Việt Nam khi mới 32 tuổi. Tháng 7-1882, khi bước chân khỏi nước Pháp sang xứ thuộc địa Đông Dương, vốn được coi là nơi “đi đày” đối với nhiều viên chức Pháp, F.Schneider đã dự tính sẽ chỉ làm việc mau chóng trong vòng 3 năm rồi về nhà. Thay vì 3 năm, đến khi gặp Nguyễn Văn Vĩnh vào đầu năm 1906, F.Schneider đã ở xứ Đông Dương 24 năm! Ông lần đầu gặp Nguyễn Văn Vĩnh qua sự giới thiệu của Đốc lý Hauser vào đầu năm 1906 và rất lấy làm ngạc nhiên tại sao lại có một người Việt Nam thông minh và tài năng đến như vậy.
Khi ấy, Hauser, với cương vị Đốc lý thành phố Hà Nội, cử ông Vĩnh sang làm việc bên nhà in của F.Schneider để tham gia làm tờ Đại Nam Đồng Văn nhật báo.Schneider gặp Nguyễn Văn Vĩnh như hai nửa mình gặp nhau và không rời nhau ra được nữa. Một người làm nhà in nhưng không có người viết báo viết sách; một người viết báo, viết sách lại không có nhà in. Ngày 28-3-1907, tờ Đại Nam ĐCTB ra đời. 15 z ĐCTB, hiểu theo nghĩa nôm na, là “Khêu đèn gióng trống”.
Sở dĩ vẫn còn chữ Đại Nam ở đầu bởi vì thực chất, đây chính là tiếp nối của tờ Đại Nam Đồng Văn nhật báo, nhưng đã thoát ly tính chất công báo để mang những đặc điểm cơ bản của một tờ báo. Do Đại Nam Đồng Văn nhật báo đã ra đến số 792 nên số 793 của Đại Nam Đồng Văn nhật báo chính là số 1 của Đại Nam ĐCTB (thường chỉ được gọi tắt là ĐCTB). Báo in ở dạng khổ nhỏ (tương đương như khổ A4), trang bìa có hình lưỡng long chầu nguyệt và in hoàn toàn bằng chữ Hán, chỉ có ở phía cuối trang phần ngày tháng, ngoài tiếng Hán có thêm dòng chữ tiếng Pháp và một dòng chữ quốc ngữ đề “Mỗi trương (số) 10 su (xu)”. Ở các trang trong cứ trang số chẵn in chữ quốc ngữ, trang số lẻ in chữ Nho.
Các trang có chữ Đại Nam ĐCTB ở trên cùng. Cách trình bày trang khá đơn giản, chia thành hai cột, bài nọ nối tiếp bài kia chứ không tiếp trang, cách vài ba trang lại có một trang tiếng Hán (không phải dịch nguyên phần chữ quốc ngữ), không theo một thứ tự nào cả. Trang bìa 1 số ĐCTB 16 z Về nội dung, ĐCTB bắt đầu có các đặc trưng của một tờ báo hiện đại như phần tin tức trong nước, ngoài nước (dưới tên gọi Việc vặt các tỉnh, Việc vặt ở Hà Nội, Việc vặt ở Hải Phòng, Điện báo toàn cầu.); phần xã thuyết, chủ yếu do ông Nguyễn Văn Vĩnh viết ký dưới những tên gọi khác nhau như Tân Nam Tử, Mũi Tẹt Tử, Nguyễn Văn Vĩnh, bàn về các vấn đề trong xã hội, thuộc đủ mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến thói hư tật xấu trong đời sống của người dân. Bắt đầu từ số 799 ra ngày 9-5-1907, báo có thêm một mục mới là Nhời Đàn bà, đều do một tay Nguyễn Văn Vĩnh viết với bút danh Đào Thị Loan (Loan là tên con gái Nguyễn Văn Vĩnh), chủ yếu bàn chuyện của chị em, mối quan hệ trong gia đình, chuyện vợ chồng, ăn mặc, vợ cả vợ lẽ, trinh tiết., tóm lại là tất cả những chuyện mà chị em phụ nữ - bộ phận độc giả ngày càng quan trọng - quan tâm.
Báo cũng dành trang để đăng những bài thơ, phú trong phần Tập thơ, phú, ca, rao.