Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về báo chí viết về tội phạm và tính nhân văn của báo chí Chương 3: Thực trạng vấn đề tội phạm trên báo chí Chương 4: Tính nhân văn của báo chí trong việc thông tin về tội phạm Chương 5: Vấn đề đặt ra và giải pháp, khuyến nghị nâng cao chất lượng, đảm bảo tính nhân văn của báo chí việt vê tội phạm. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU 1. Các công trình nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu về vai trò, chức năng và nguyên tắc của báo chi Nghiên cứu về vai trò, chức năng, nguyên tắc của báo chí là hướng nghiên cứu chủ đạo của nhiều tác giả, với hệ thống các xuất bản khá phong phú tại Việt Nam, tiêu biểu là cuốn "Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” (tái bản nhiều lần) của nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang, "Cơ sở lý luận báo chí” của tác giả Tạ Ngọc Tấn (1992), "Báo chí và dư luận xã hội” của tác giả Nguyễn Văn Dững (2011), "Cơ sở lý luận báo chí” của tác giả Nguyễn Văn Dững (2012), "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của tác giả Nguyễn Văn Dững va Đỗ Thị Thu Hang (2012).
Về lĩnh vực chính trị, báo chí là công cụ, là vũ khí quan trọng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, có vai trò hướng dẫn nhận thức và hành động cho công chúng. Báo chí là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng, là công cụ tham gia giám sát, quản lý xã hội. Về lĩnh vực kinh tế, báo chí có vai trò to lớn trong việc cung cấp các thông tin về thị trường hàng hóa, về thị trường tài chính, tiền tệ, về thị trường lao động, thị trường công nghé,. Báo chí không chỉ dừng lại trong việc cung cấp thông tin thuần túy mà còn có thê hướng dẫn thị trường, hướng dẫn việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, giới thiệu những mô hình, điển hình tiên tiến trong sản xuất và kinh doanh.
Với việc phố biến các kinh nghiệm thành công hay thất bai trong quan lý, kinh doanh và áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm chi phí trong sản xuất, báo chí góp phần tạo nên hiệu quả kinh tế lớn cho xã hội. Về lĩnh vực văn hóa, báo chí làm giàu, làm đẹp cho vốn văn hóa dân tộc, nhất là ngôn ngữ, báo chí là nơi vừa giữ gìn và sáng tạo ra nhiều từ mới, thuật ngữ mới cả trong cách viết và cách thé hiện, trong việc chuẩn ngôn ngữ nói và viết. Một xã hội muốn phát triển thì công chúng cần hiểu biết, bởi vậy, trình độ tri thức của người dân phải luôn được nâng cao và đặt mục tiêu hàng đầu. Báo chí đóng góp vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, giải trí, kêt nôi các cá nhân trong cộng 16 đồng dé công chúng cùng tìm hiểu, học tập, chia sẻ tình cảm, kỹ năng, từ đó, thay đôi nhận thức, hành vi, hành động.
Về lĩnh vực an ninh trật tự, báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu của đời sống xã hội, được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền phổ biến đường lối chủ trương của Dang và chính sách pháp luật của Nha nước, tham gia cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và các loại tội phạm khác, các tệ nạn xã hội; cung cấp thông tin có giá trị giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật điều tra xét xử đúng người, đúng tội. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, chống lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, báo chí kiên trì tuyên truyền, khang định những thành quả to lớn của Dang va nhân dân ta, đồng thời, vạch tran âm mưu diễn biến hòa bình, kịp thời đấu tranh chống những luận điệu xuyên tac đường lỗi chính sách của Đảng và Nhà nước. Trách nhiệm lớn nhất của người làm báo là tham gia định hướng dư luận xã hội để công chúng góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, giữ vững én định chính trị xã hội, tạo điều kiện tiên quyết dé tiếp tục day mạnh công cuộc đổi mới đất nước. Nhiều nghiên cứu về vai trò, chức năng, nguyên tắc của báo chí đã chỉ ra rằng, tính nhân văn là một trong những nguyên tắc cơ bản của thông tin báo chí.
Trong các giáo trình dùng để giảng dạy tại một số trường đại học chuyên ngành báo chí của tác giả Tạ Ngọc Tan (chủ biên, 1992) gồm:"Cơ sở lý luận báo chí” (1992); của tác giả Nguyễn Van Dững gồm: "Báo chí và dư luận xã hội” (2011), "Cơ sở lý luận Báo chí” (2012); của tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên) - Đỗ Thị Thu Hang (2012) gồm: "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản”, tính nhân văn được khẳng định là một trong các nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí. Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” (2012), nguyên tắc tính nhân văn được tác giả phân tích một cách khá chi tiết trong chương VI từ trang 231 đến trang 247. Tiếp cận vấn đề tính nhân văn từ quan điểm hệ thống, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt về quan điểm và dạng thức biểu hiện của tính nhân văn tùy thuộc vào nền văn hóa, vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, vào đặc điểm giai cấp.Tuy nhiên, theo tác giả, hệ thống giá trị nhân văn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tốn tại và phát triển của loài người. Do đó, tính nhân văn của báo chí và niềm tin của công chúng đối với báo chí hiện nay là một trong những van đề được quan tâm đúng mức [15].
17 Trong cuốn "Cơ sở lý luận báo chí” (1992), tính nhân văn không được xếp thành nguyên tắc riêng mà nằm trong nguyên tắc tính khuynh hướng của báo chí. Các tác giả cho rằng, khi những người làm báo phản anh sự thật một cách trần trụi, coi tất cả những thông tin trong tác phâm báo chí của mình đều "vô tư và chân thật” thì đó là quan niệm sai lầm, chủ quan và siêu hình. Nhà báo chân thật nhưng đó là "chân thật hồn nhiên” chưa đạt đến trình độ khách quan khoa học. Khi xem xét tác phẩm báo chí từ góc độ ngữ nghĩa, có thé thấy các cấp độ khác nhau của thông tin và không chỉ dừng ở "mô tả”, cấp độ cao hơn của nó phải là phân tích rồi hướng dẫn công chúng, tác động vào chiéu sâu của nhận thức dé làm cơ sở cho việc xác định phương hướng và phương pháp hành động.
Khi nhà báo chọn lọc thông tin tốt, đảm bảo nguyên tắc nhân văn thì ở cấp độ "hướng dẫn”, "tác động”, "định hướng”, rõ ràng sẽ đạt được hiệu quả tốt, phục vụ được lợi ích của công chúng. Còn ở chiều ngược lại, hậu quả sẽ khó lường. Những tác động xấu của thông tin sẽ không chỉ dừng ở cá nhân công chúng tiếp nhận mà sẽ gây hoang mang trong cộng đồng, sẽ vẽ lên một bức tranh xã hội nhiều đen tối, xấu xa [85]. Van đề nay được phân tích sâu hon trong cuốn "Báo chi và dư luận xã hội” (2011).
Tính nhân văn của báo chí được xem xét trong cơ chế tác động qua lại của báo chí và dư luận xã hội. Với vai trò quan trọng trong việc khơi nguồn dư luận xã hội, định hướng dư luận xã hội, nếu báo chí không đảm bảo các nguyên tắc hoạt động cơ bản của nó, báo chí không chỉ mất vai trò trong đời sống xã hội mà còn gây ra những hậu quả khó lường[ 14]. Một nghiên cứu quan trọng của tác giả Mai Quỳnh Nam (1996) về "Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội”, tác giả đã đưa ra quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa báo chí và công chúng trong quá trình hình thành và thé hiện du luận xã hội. Tác giả đã phân tích cơ chế hình thành và thé hiện dư luận xã hội thông qua tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng, theo đó, một trong những tính chất khiến cho thông tin báo chí trở thành điểm khởi đầu cho việc đánh giá của dư luận xã hội, đó là: ”nó phải phản ánh được lợi ích xã hội”, là ”tính khách quan và chân thực của nội dung thông tin”.
Đây chính là các nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí, để mục đích cuối cùng của thông tin báo chí là vì con người [67]. 18 Cũng tiếp cận ở góc độ này, nhưng đề cập cụ thé hơn về "lợi ích xã hội” ma báo chí truyền thông mang lại cho công chúng, tác giả Đỗ Chí Nghĩa (2012) trong cuốn "Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội”, bác bỏ quan điểm cho rằng: báo chí chỉ cần thông tin là đủ còn công chúng tự định hướng xem họ phải làm gi. Theo tác gia, báo chí không được phép thông tin hồn nhiên, đáp ứng nhu cầu chạy theo tin nóng mà quan trọng hơn là phải xác định bạn đọc có lợi ích gì từ những thông tin ấy. Việc định hướng dư luận xã hội phải bắt đầu từ việc báo chí chọn thông tin nào dé đưa.
Điều đó là vô cùng cần thiết cho một nền báo chí nhân văn [69]. Dựa trên lý thuyết truyền thông của tác giả người Mỹ George Gerbner- "Lý thuyết giáo hóa”, tác giả Nguyễn Thành Lợi phân tích những ảnh hưởng của văn hóa bạo lực đối với tâm lý giới trẻ thông qua các phương tiện truyền thông. Nghiên cứu "Những vụ thảm án qua góc nhìn truyền thông: Bài học cho phát triển con người” của tác giả Nguyễn Thành Lợi (2019) đã bác bỏ quan điểm cho rằng, đăng tải về các hành vi phạm tội là một cách "điều hòa xã hội của báo chi”, nhằm mục đích "giáo dục công chúng”, "làm giảm thiêu tỷ lệ phạm tội”. Trên cơ sở "Lý thuyết giáo hóa”, tác giả Nguyễn Thành Lợi chứng minh những ảnh hưởng tiêu cực "không thé ngờ tới” từ mục đích tích cực kia.
Thậm chí, "còn dẫn đến nhiều hành vi phạm pháp hơn” bởi "tâm lý muốn mô phỏng” những hành vi phạm tội được đăng tải trên truyền thông [63]. Các bài phát biéu tông kết công tác báo chi hàng năm của các nhà nghiên cứu đồng thời là những người giữ trọng trách trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý Nhà nước về báo chí (Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông.