Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển xuất khẩu hàng dệt may Chương 2: Thực trạng phát triển xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam Chương 3: Giải pháp phát triển xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam khi tham gia Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) 7 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước Có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về ngành dệt may và xuất khẩu dệt may các quốc gia trên thế giới, về xuất khẩu hàng dệt may cũng như những cam kết đối với xuất khẩu hàng hóa trong đó có hàng dệt may khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương. (1) Matt Berdine, Erin Parrish, Nancy L.Cassill (2008), Measuring the Competitive advantage of the US Textile and Apparel Industry (Đo lường lợi thế so sánh của công nghiệp dệt và may mặc Hoa Kỳ), Annual Conference, Boston MA.
Nghiên cứu đã đưa ra tình hình của ngành dệt may Hoa Kỳ trong hơn 10 năm qua đã giảm sự cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Có rất nhiều lý do trong đó tồn tại việc tồn kho và lợi nhuận thấp, bên cạnh đó sự gia tăng nhanh chóng hàng dệt may nhập khẩu từ các nước có chi phí sản xuất thấp, giá rẻ hơn ảnh hưởng lớn đối với công nghiệp dệt may Hoa kỳ. Các tác giả đã đặt ra các giải pháp để ngành dệt may của Mỹ có thể tiếp tục cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đồng thời nghiên cứu cũng tìm ra những yếu tố then chốt tác động tới sự cạnh tranh của các khu vực xuất khẩu dệt may hàng đầu để đưa ra nhận định làm thế nào để ngành dệt may Hoa Kỳ có thể thích ứng và tăng trưởng xuất khẩu.
Hiện nay, trình độ phát triển của ngành dệt may Hoa Kỳ rất cao thể hiện qua việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm, marketing và dịch vụ khách hàng, đó chính là những bài học kinh nghiệm cho ngành dệt may Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA). (2) Marco Biselli (2009), China’s Role in the Global Textile Industry (Quy tắc của Trung Quốc trong công nghiệp dệt may toàn cầu), Tusiad, China Nghiên cứu này chỉ ra ngành công nghiệp dệt may là một ngành công nghiệp trọng điểm của Trung Quốc. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu sự phát triển và vai trò của Trung Quốc trong ngành công nghiệp dệt may toàn cầu. Tác giả đã định hình những đối thủ cạnh tranh trong thị trường dệt may Trung Quốc và vị trí của Trung Quốc trong thị trường dệt may toàn cầu.
Cuối cùng, tác giả đưa ra những quan điểm cho ngành công nghiệp dệt may của Trung Quốc và xác định những rủi ro mà ngành này có thể gặp phải. Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Việt 8 Nam về điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế; Do vậy có thể rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển ngành dệt may để có thể đứng vững và phát triển trong ngành công nghiệp dệt may toàn cầu. (3) Wu Chongbo (2007), Studies on the Indonesian textile and garment industry (Những nghiên cứu về ngành công nghiệp dệt và may mặc Indonesia), Asia Pacific Press Indonesia là một trong những quốc gia sản xuất may mặc lớn nhất ASEAN, có một quy trình sản xuất hoàn chỉnh bắt đầu từ sản xuất sợi cho tới các sản phẩm dệt may hoàn thiện. Các sản phẩm dệt may rất đa dạng và có tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ngành công nghiệp dệt may có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế Indonesia, đóng góp lớn vào GDP và tạo ra nhiều việc làm. Ngành công nghiệp dệt may của Indonesia có một nền tảng phát triển vững chắc, tuy nhiên ngành công nghiệp dệt may của nước này cũng phải đối mặt với một số khó khăn dẫn tới việc đóng cửa nhiều nhà máy và chuyển địa điểm gây ra tình trạng thất nghiệp. Nghiên cứu này đã phân tích quá trình hoạt động của ngành dệt may và vai trò của ngành dệt may cũng như các chính sách ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành dệt may Indonesia trong tương lai. Qua nghiên cứu về ngành dệt may Indonesia, có thể thấy rõ mô hình phát triển của ngành dệt may Indonesia, những thuận lợi và khó khăn trong ngành dệt may từ đó có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho ngành dệt của Việt Nam trong quy trình sản xuất sản phẩm để phát triển xuất khẩu.
(4) Dr Sanchita Banerjee Saxena, Veronique Salze - Lozac’h (2010), Competitiveness in the Garment and Textiles Industry: Creating a supportive environment (Khả năng cạnh tranh trong ngành dệt và may mặc Bangladesh: tạo ra một môi trường hỗ trợ), Occasional Paper No1. Nghiên cứu chỉ ra rằng trong ngắn hạn, chính sách về xuất khẩu hàng may mặc sẽ thúc đẩy năng lực cạnh tranh, đạt được các mục tiêu về giảm thời gian và chi phí trong kinh doanh, nâng cao năng suất và tác động lan tỏa tích cực tới các lĩnh vực khác. Ngành công nghiệp dệt và may mặc của Bangladesh cũng chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu, xuất khẩu sang EU và Hoa Kỳ giảm mạnh. Ngành dệt may của Bangladesh sử dụng hơn 3 triệu lao động và cuộc khủng hoảng kinh tế làm mức độ thất nghiệp tăng cao.
9 Công nghiệp dệt may của Bangladest có thế mạnh và chi phí thấp, các sản phẩm có chất lượng. Tuy nhiên, Bangladesh luôn phải cạnh tranh với các nước xuất khẩu dệt may lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và có sự cạnh tranh về giá so với các nhà xuất khẩu Campuchia, Srilanka. Hiện nay, Bangladesh chú trọng tới các điều kiện về môi trường, lao động trong ngành dệt may. Để công nghiệp dệt may phát triển và mở rộng, cần phải thu hút vốn đầu tư và công nghệ từ các nước phát triển chứ không phải chỉ giảm chi phí đầu vào.
Như vậy sẽ tạo ra giá trị gia tăng lớn trong ngành công nghiệp dệt may của Bangladesh. Platzer (2014), US Textile Manufacturing and the Trans - Pacific Partnership Negotiations (Sản xuất dệt may của Hoa Kỳ và các cuộc đàm phán của Hiệp định TPP),Congressional Research Service. Tác giả đã nhận định và phân tích dệt may là một vấn đề đang tranh cãi và chưa thống nhất tại các cuộc đàm phán Hiệp định TPP để tạo ra một khu vực thương mại tự do tại Châu Á Thái Bình Dương. Hầu hết các nước tham gia đàm phán trong đó có Việt Nam đều có kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc khá lớn nhưng chủ yếu vải và sợi đều nhập khẩu từ Trung Quốc và các quốc gia Châu Á khác.
Hiệp định TPP sẽ ảnh hưởng tới các nhà xuất khẩu dệt may Hoa Kỳ theo hai hướng: một là, thị trường dệt may của Hoa Kỳ sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh lớn khi các nước trong TPP xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ mà không phải chịu thuế. Hai là, nếu những thỏa thuận trong TPP không yêu cầu cam kết các sản phẩm phải có sợi được sản xuất tại các nước trong TPP mà vẫn được hưởng quyền ưu tiên khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ thì sẽ tạo ra sự cạnh tranh với các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ. Trong nghiên cứu này đã phân tích ngành dệt may Hoa Kỳ khi tham gia TPP nhưng qua đó cũng đánh giá được cơ hội và thách thức đối với ngành dệt của Việt Nam khi tham gia TPP. Williams, 2013, Trans - Pacific Partnership (TPP) Countries: Comparative Trade and Economic Analysis (Các quốc gia tham gia hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP): Lợi thế so sánh trong thương mại và các phân tích kinh tế), Congressional Research Service, Washington DC.
Tác giả đã nghiên cứu về Hiệp định TPP là một thỏa thuận thương mại tự do gồm 12 nước tham gia. Các thành viên sẵn sàng áp dụng các tiêu chuẩn cao trong các thỏa thuận. Nhật Bản là nước gần đây nhất tham gia đàm phán TPP vào ngày 24/4/2013.Các đại diện của các nước tham gia đàm phán sẽ tham vấn với nhau và khi kết thúc đàm phán sẽ đưa các thỏa thuận vào Hiệp định một cách chính thức. 10 Trong đánh giá đàm phán TPP, các thành viên có thể quan tâm tìm hiểu tác động kinh tế tiềm năng và tầm quan trọng của TPP đối với nền kinh tế của họ, cùng với cơ hội mở rộng thương mại vào các thị trường TPP.
Nghiên cứu này cung cấp một số phân tích kinh tế so sánh của một nước với các nước còn lại trong TPP. Phân tích này cho thấy sự đa dạng về dân số, phát triển kinh tế, mô hình thương mại và đầu tư với Hoa Kỳ, một đối tác lớn nhất trong TPP. TPP luôn có những tiềm năng mở rộng, đây là khu vực chiếm 40% dân số thế giới và sản xuất chiếm 60% GDP toàn cầu. Đối tác đàm phán TPP chiếm 40% thương mại hàng hóa của Hoa Kỳ vào năm 2012.TPP sẽ là FTA lớn nhất của Hoa Kỳ cho đến nay bởi giá trị thương mại nó mang lại.
Các đối tác TPP khác hiện cũng có mạng lưới FTA rộng rãi, Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN) trong đó có Brunei, Malaysia, Singapore và Việt Nam là thành viên TPP và có nhiều FTA với các nước khác. (7) Cross Mark (2015), Impact of the Trans - Pacific Partnership on China’s Textiles and Apparel Exports: A Quantitative Analysis (Tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương tới xuất khẩu dệt may Trung Quốc: Phân tích định lượng) Nghiên cứu này có ý định để định lượng các tác động tiềm năng của việc thực hiện của các đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với hàng dệt may của Trung Quốc và xuất khẩu hàng may mặc. Kết quả cho thấy, lần đầu tiên, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc sang Hoa Kỳ, Nhật Bản, và các khu vực NAFTA sẽ giảm đáng kể sau khi TPP. Thứ hai, hiệu ứng chệch hướng thương mại do Nhật Bản sẽ bù đắp tiêu cực đến việc mở rộng tiềm năng xuất khẩu dệt may của Trung Quốc với Việt Nam và các thành viên TPP châu Á khác sau khi TPP.
Thứ ba, gia nhập của Nhật Bản với các nước TPP sẽ áp đặt các tác động tiêu cực đáng kể đối với hàng dệt may xuất khẩu của Trung Quốc trong thời đại TPP. Hiệp định CPTPP được gọi là toàn diện và tiến bộ vì đã vượt ra ngoài viêc giảm chi phí cho doanh nghiệp, CPTPP cam kết bảo vệ và thực thi các tiêu chuẩn lao động và môi trường cao trên toàn khu vực Châu Á, Thái Bình Dương.