Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Chương 2: Thực trạng phát triển văn hóa nhà trường ở các trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Chương 3: Giải pháp phát triển văn hóa nhà trường ở các trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nh ng nghiên cứu về Văn hóa nhà trường * Nghiên cứu về văn hoá Người đầu tiên mở đường cho nghiên cứu khoa học về văn hóa có thể kể đến Edward B. Tylor với tác phẩm nổi tiếng “Văn hóa nguyên thủy”. Theo ông, văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về dân tộc học nói chung được hình thành từ tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng một số năng lực và thói quen [76].
Cho đến gần 40 năm sau, từ khi cuốn sách “Văn hóa nguyên thuỷ” ra đời, năm 1909 thuật ngữ Văn hóa mới được khẳng định bởi Willhelm Ostwald - nhà khoa học và triết học Đức. Thuật ngữ này dùng chỉ cho môn học mới mà ông gọi là “Khoa học về các hoạt động văn hóa" tức là hoạt động đặc biệt của con người. Các nhà lý luận Mác xít Xô Viết sau này vào những năm 60 của thế kỷ 20 đã phát triển thêm mở rộng về khái niệm văn hóa và văn hóa được xem là một dạng hoạt động của con người. Phần lớn những thành tố của văn hóa được nghiên cứu và thuộc về cấu trúc của ý thức xã hội bị quy định bởi sự tồn tại của xã hội.
Văn hóa được quan tâm nhiều bắt đầu từ cuối thập kỷ 40 của thế kỷ 20 với sự ra đời của tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO). Là một tổ chức hoạt động với mục đích thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hóa để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo (Công ước thành lập UNESCO). Nhưng văn hóa ở đây đề cập chủ yếu tới các di sản thế giới [dẫn theo 22]. Từ những năm 90 của thế kỷ 20, văn hóa mới là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo dục, nhiều quốc gia trên thế giới.
Xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu cơ sở 8 lý luận của việc phát triển văn hóa trong đó bao gồm Chủ nghĩa Mác - Lênin; các lý thuyết phương đông, các lý thuyết phương tây về văn hóa. Các nhà nghiên cứu có cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu văn hóa khác nhau, đề cập đến nhiều khái niệm khác nhau. Trong lĩnh vực nghiên cứu, các nhà văn hóa học thường hay đặt đối lập giữa ba lĩnh vực nhận thức văn hóa học.Ô-rơ-lô-va đặt đối lập nhận thức lý luận về văn hóa không chỉ với triết học mà với cả lịch sử. Ông cho rằng: Tiếp cận Triết học nghiên cứu văn hóa thường mang tính chất tiên nghiệm (siêu hình) và không được kiểm tra bằng thực nghiệm, còn tiếp cận sử học lại bị hạn chế bởi sự miêu tả các sự kiện và không vượt ra khỏi cấp độ giải thích [dẫn theo 57].
Vì thế, trong các khoa học về văn hóa, cho đến nay, đã có sự đóng góp của nhiều lĩnh vực khác nhau như: nhân học, xã hội học, tâm lý học, ngôn ngữ học, v. mà trước hết và chủ yếu là hai lĩnh vực: Nhân học và Xã hội học. Tất cả các lĩnh vực này, từ nhiều khía cạnh khác nhau đều nghiên cứu các hiện tượng văn hóa cũng bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau. * Nghiên cứu về văn hóa tổ chức Khái niệm “Văn hóa tổ chức” (organisational culture) xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 và chính thức trở thành một khái niệm trong Khoa học tổ chức - Quản lí, xuất hiện ở Âu Mỹ từ những năm 80 của thế kỷ XX, hiện nay là một khái niệm tiêu biểu và được phổ biến rộng rãi.
Theo tác giả Louis (1980) qua nghiên cứu, tác giả đã đưa ra văn hóa tổ chức là một tập hợp những quan niệm chung của một nhóm người. Những quan niệm này phần lớn được các thành viên hiểu ngầm với nhau và chỉ thích hợp cho tổ chức của riêng họ. Các quan niệm này sẽ được truyền cho các thành viên mới. Hay một quan niệm khác của Schwatz and Davis (1981) khi nhắc tới văn hóa tổ chức được nghiên cứu như là một hình thức của các tín ngưỡng và tham vọng của các thành viên trong một tổ chức.
Những tín ngưỡng và tham vọng này tạo nên một quy tắc chung ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành các hành vi cá nhân và nhóm người trong tổ chức. 9 Các nghiên cứu này phản ánh những quan niệm rất khác nhau về văn hoá nói chung và văn hóa tổ chức nói riêng. Ta có thể thấy có 2 luồng ý kiến: một cho rằng văn hoá là một cách nói ẩn dụ và bên kia cho rằng văn hoá là một thực thể khách quan. Theo tác giả Farmer (1990) thì văn hóa của một tổ chức có thể được hiểu như tổng hòa các giả thiết được cho là đúng, các niềm tin và giá trị mà các thành viên của tổ chức ấy cùng chia sẻ và được diễn đạt thông qua cách nói ngắn gọn “làm gì, làm như thế nào, và ai sẽ làm việc ấy”.
Tuy nhiên, thành viên của một tổ chức thường coi văn hóa ấy là đương nhiên và không thực sự biết đánh giá tác động của nó đến các quyết định, hành vi, sự truyền thông giao tiếp, hay xem xét những biên giới có tính cấu trúc và biểu tượng của văn hóa tổ chức cho đến khi những lực lượng bên ngoài kiểm nghiệm nó. Theo Farmer, “sự thất bại trong việc hiểu biết những cách thức tương tác giữa văn hóa tổ chức và chiến lược tạo ra những thay đổi đã dự định cũng đồng nghĩa với sự thất bại của chính những chiến lược ấy” [78]. Ở Việt Nam, văn hóa đã xuất hiện từ lâu đời trong đời sống của con người. Văn hóa là cái không thể nắm bắt, nhận diện nhưng đã và đang hiện hữu trong đời sống hàng ngày, trong phong tục tập quán, trong giao tiếp, ứng xử, trong cung cách làm việc của mỗi tổ chức., trong xã hội Việt Nam.
Bản chất và nội dung của VHNT đã được xây dựng và bồi đắp trong các nhà trường ở Việt Nam từ xa xưa và trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta như: “Kính thầy yêu bạn”, “Tôn sư trọng đạo”, “Uống nước nhớ nguồn”,. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã rất quan tâm đến giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ để họ trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên”, Bác mong muốn thế hệ trẻ phải được giáo dục để trở thành những con người mới xã hội chủ nghĩa. Tác giả Phạm Quang Huân trong nghiên cứu Văn hóa- Hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường đã đề cập đến tổ chức nhà trường là một tổ chức hành chính – sư phạm. Đó là một thế giới thu nhỏ với những cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng do những con người cụ thể thuộc mọi thế hệ tạo lập.
Tác giả khẳng định VHNT chính là văn hóa tổ chức. Với tư cách là một tổ chức, mỗi nhà trường đều tồn tại, dù ít hay nhiều, một nền văn hoá nhất định.[31] 10 Tác giả Nguyễn Viết Lộc trong bài viết “Văn hóa tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới và hội nhập” đã phân tích các khái niệm và các yếu tố cấu thành văn hóa tổ chức, văn hóa tổ chức của một trường đại học. Tác giả đã khái quát hóa các đặc trưng cơ bản của văn hóa tổ chức để đưa ra những vấn đề đặc biệt quan tâm và mô hình tham khảo cho quá trình xây dựng văn hóa tổ chức của Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Tác giả Phạm Hiệp với bài viết Văn hóa tổ chức trong cải cách giáo dục đại học.
Tác giả nhấn mạnh vai trò của văn hóa tổ chức trong cải cách giáo dục. Đó là giải pháp quan trọng nhất trong cải cách giáo dục ở các trường đại học. Văn hóa tổ chức bao gồm 6 thành tố như: Sự tương tác giữa cán bộ trong trường đại học; Sự tương tác giữa các nhà Lãnh đạo, GV và công nhân viên; sự tương tác giữa các sinh viên; sự tương tác giữa cán bộ và sinh viên trong nhà trường; sự tương tác giữa cán bộ của trường đại học với xã hội bên ngoài; sự tương tác giữa các sinh viên của trường đại học với xã hội bên ngoài. Khi cải cách giáo dục diễn ra đồng thời phải cải cách 6 thành tố đó trong văn hóa.
Văn hóa tổ chức qua những nghiên cứu của các tác giả trong nước nhấn mạnh ở đặc trưng cơ bản của văn hóa trong một tổ chức. Các cách quan niệm này đã đơn giản hóa văn hóa tổ chức khiến cho chúng ta có những cách nhìn nhận rõ ràng hơn. Tuy nhiên những hướng nghiên cứu này không đi sâu vào nghiên cứu bản chất thực sự của văn hóa tổ chức. Một số khái niệm về văn hóa tổ chức của các tác giả có sự đồng nhất.
Các tác giả mới dừng lại ở mức độ hiểu, nhận biết nhưng chưa có sự thực nghiệm văn hóa tổ chức vào thực tiễn để đánh giá tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của một tổ chức nhất định. * Nghiên cứu về văn hóa nhà trường Thuật ngữ “Văn hóa nhà trường” (School culture) là một khái niệm mới xuất hiện gần đây. Nội dung của “Văn hóa học đường” bao hàm nội dung của “Trường học thân thiện” do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối thế kỷ XX. Nghiên cứu của Edgar Henry Shein (1996), (culture-the missing concept in organization studies); theo quan niệm của ông, VHNT cũng chính là văn hóa tổ chức.
11 Ông đã chỉ ra văn hóa nhà trường bao gồm: những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused values), những quan niệm chung (basic underlying assumption). Nghiên cứu của Rexford Brown đã đưa ra các tài liệu dẫn chứng về sự phát triển của các trường đại học tại Mỹ trong 20 năm.