Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Một số công trình nghiên cứu ở Hoa Kỳ của Cross, Bazon, Dennis và Isaac (1989) tìm hiểu về năng lực văn hóa để nhằm khuyến khích sự hiểu biết về văn hoá, sự trao đổi về ngôn ngữ, sự phối hợp giữa các gia đình, các nhà chuyên môn, HS và cộng đồng. Sự phối hợp phải nâng cao kết quả học tập một cách bình đẳng cho tất cả HS và đem lại sự gắn bó chặt chẽ, sự cung cấp các dịch vụ để thích ứng với các vấn đề về chủng tộc, văn hoá, giới, địa vị, kinh tế và xã hội.
Năng lực văn hoá được coi là toàn bộ các hành vi, quan điểm và hành động đồng dạng trong cùng một hệ thống, tổ chức, hay giữa các nhà chuyên môn và giúp cho hệ thống, tổ chức hay nhóm nghề nghiệp đó hoạt động một cách có hiệu quả trong một môi trường đa văn hoá. Dựa trên các công trình nghiên cứu tại một số trường phổ thông của quận Dacle (bang Florida), Chicago và San Diego của Hoa Kỳ. Các tác giả như: Rosenholtz (1989), Fullan và Hargreaves (1991), Lortie (1975), Aston và Web (1986), Fullan và Hargreaves (1991), Stein (1998), Lambert (1998), Fullan (2001), Dufour & Eaker (1998), Susan Jonson (1990), Hord (1998) và Levine (1990)… Đã đưa ra một loạt các biện pháp nhằm phát huy sự nỗ lực của GV và các nhà quản lý để phát triển VHNT có tính hợp tác hơn. Họ mong muốn phát triển VHNT chuyên nghiệp, có khả năng hỗ trợ việc đổi mới liên tục về chương trình, phương pháp giảng dạy, bầu không khí nhà trường chuyên nghiệp, sự tin tưởng, sứ mệnh được sẻ chia và đáp ứng được cho tất cả các HS của nhà trường.
Trong vòng 25 năm qua, khái niệm về VHTC đã được đông đảo mọi người chấp nhận và được xem như một cách để hiểu về các hệ thống của con người. Từ góc độ “một hệ thống mở”, mỗi khía cạnh của VHTC có thể được coi là điều kiện môi trường quan trọng tác động đến hệ thống và các tiểu hệ thống. Việc xem xét VHTC cũng là một công cụ phân tích rất giá trị. Có thể nói, mỗi tổ chức đều phải 7 giải quyết hai vấn đề lớn: đoàn kết các cá nhân với nhau để đạt hiệu quả cao trong công việc và làm cho tổ chức thích ứng được với môi trường bên ngoài.
Để giải quyết những vấn đề này, tổ chức phải có những giải pháp chung, mang tính tập thể và cùng nhau chia sẻ niềm tin, sự học tập. và đó chính là “văn hóa”. Nhiều học giả uy tín hàng đầu về phát triển nhà trường nhắc đến như Edgar Schein, Deal (1993), Deal và Peterson (1994), Hargreaves (1994), Harris (2002), Hopkins (2001) và Sarason (1996), Berman và Mc Laughlin (1978), Hopkins (2001), Rosenholtz (1989), Stoll và Fink (1996) nhận định tương tự như vậy về việc cần phải coi VHNT như một bộ phận của quá trình thay đổi tổ chức, xây dựng và phát triển VHTC. Trên cơ sở phương pháp điều tra mang tính mô tả để tìm ra các khía cạnh quan trọng trong mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường, Adrew W.
Halpin và Don B.Croft (1962) đưa ra nhận định về quản lý nhà trường hiệu quả dựa trên cơ sở xây dựng bầu không khí lành mạnh, phát triển văn hóa trở nên rất cần thiết. Từ các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy rằng phạm trù VHTC nói chung, VHNT nói riêng rất phong phú, đa dạng và biểu hiện với nhiều cấp độ khác nhau, phản ánh đầy đủ bức tranh về văn hóa nhà trường đặc biệt là VHTC. Tuy nhiên, phần lớn các quan niệm đều đi đến thống nhất về tính cần thiết và vai trò quan trọng của VHNT là góp phần nâng cao kết quả, hiệu quả mọi hoạt động; nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường; xây dựng thương hiệu nhà trường và góp phần kiến tạo môi trường văn hóa tại mỗi cộng đồng dân cư mà nhà trường tọa lạc. Các công trình nghiên cứu trong nước Văn hóa nhà trường là một khái niệm mới xuất hiện trong vài chục năm gần đây, nhưng nội hàm của nó thì đã được đề cập đến từ lâu.
Văn hóa nhà trường là nền tảng và định hướng cho sự phát triển tiến bộ của nhà trường, là một động lực quan trọng để thực hiện đổi mới quản lý giáo dục. Cũng giống như văn hóa, VHNT cũng được nhiều tác giả nghiên cứu và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở trong nước hiện nay, một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của VHNT qua một số sách chuyên khảo, tài liệu và bài báo khoa học: 8 Tại hội thảo khoa học "Văn hóa học đường - Lý luận và thực tiễn" do Trung ương Hội khoa học Tâm lý và Giáo dục Việt Nam tổ chức tại tỉnh Tiền Giang tháng 3/2009; Trong sản phẩm Kỉ yếu Hội thảo Văn hóa học đường của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2007); Tài liệu bồi dưỡng CBQL trường THPT, Quyển 2 của Học viện Quản lý giáo dục (2012; Tài liệu bồi dưỡng CBQL trường THPT ;Tài liệu Quản lý giáo dục, tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2011; Trong quyển sách Bối cảnh mới, ngôi trường mới, nhà quản lý giáo dục mới do tác giả Tô Xuân Dân (chủ biên); Quyển sách Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục (2013) của Trần Kiểm; Theo Phạm Thành Nghị trong bài viết Văn hóa trường học: đặc điểm, chức năng và sự phát triển trên Tạp chí Quản lý giáo dục (số 5, 2009; Trong cuốn sách chuyên khảo Xây dựng văn hóa nhà trường phổ thông - Lý thuyết và Thực hành (2014) của tác giả Lê Thị Ngọc Thúy. Bên cạnh đó cũng có một số công trình nghiên cứu khoa học khác như: - Lê Thị Ngoãn (2009), Xây dựng văn hóa nhà trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định, Luận văn Thạc sĩ khoa học Quản lý giáo dục, Đại học Thái Nguyên; - Nhân Thị Nga (2010), Xây dựng văn hóa học tập ở Trường Trung học phổ thông Ngọc Hà – Hà Giang, Luận văn Thạc sĩ khoa học Quản lý giáo dục, Đại học Thái Nguyên; phản ánh đầy đủ việc xây dựng văn háo nhà trường lành mạnh.
- Lưu Văn Mùi (2012), Xây dựng văn hóa nhà trường ở các Trưởng THPT huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ khoa học Quản lý giáo dục, Đại học Thái Nguyên; - Lê Thị Yến Tâm (2013), Công tác xây dựng văn hóa nhà trường Trường Đại học Sài Gòn, Luận văn Thạc sĩ khoa học Quản lý giáo dục, Đại học Vinh; - Vũ Thị Quỳnh (2014), Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ khoa học Quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội; Đưa ra các biện pháp xây dựng VHNT hiệu quả. - Nguyễn Đăng Hiếu (2015), Biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở Trường Trung học cơ sở Phú Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sĩ khoa học Quản lý giáo dục, Học viện Khoa học xã hội; 9 - Nguyễn Thanh Sơn (2015), Biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các Trường Tiểu học địa trên bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Luận văn Thạc sĩ khoa học Quản lý giáo dục, Trường Đại học Đồng Tháp; - Nguyễn Văn Vinh (2016), Biện pháp xây dựng văn hóa học đường của Hiệu trưởng Trường Tiểu học huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Luận văn thạc sĩ khoa học Quản lý giáo dục, Trường Đại học Đồng Tháp. Nhìn chung cho tới thời điểm hiện tại, ở huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng chưa có công trình nghiên cứu về phát triển VHNT ở các trường THPT, cho nên đề tài “Phát triển văn hoá nhà trường ở các Trường Trung học phổ thông huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng” của tác giả là mới mẻ. Kết quả nghiên cứu thành công sẽ mang lại ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn, góp phần kiến tạo môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực, tạo bầu không khí dân chủ, tạo dựng thương hiệu nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS tại địa phương.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quản lý nhà trường 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Hoạt động quản lý xuất hiện từ khi xã hội có loài người và nhờ có hoạt động này mà xã hội không ngừng phát triển.
Khái niệm quản lý đã tồn tại từ khá lâu trước công nguyên, tuy nhiên lúc đó quản lý mang tính chất là một thứ triết học, thể hiện qua các tư tưởng của Socrate (469-399 TCN), Platon (427-347 TCN), Aristoteles (384-322 TCN), Ngày nay do cách tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về quản lý.Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ 10 thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý, phải có người đứng đầu.
Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra” [1]. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6]. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định” [28].