phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn ngoài các phần đó tôi dự kiến trình bày các vấn đề trọng tâm của luận văn trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Một số biện pháp sƣ phạm phát triển tƣ duy sáng tạo trong dạy học chủ đề hàm số bậc hai, hàm số đa thức và ứng dụng thực tế cho học sinh THPT. 4 Chƣơng 3: Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm. Tổng quan của luận văn Khi tiến hành làm một luận văn ta cần viết tổng quan tài liệu dùng để viết luận văn cần làm các bƣớc sau - Cần xác định chuẩn chủ đề quan tâm viết - Cần xác định rõ mục tiêu tổng quan tài liệu cần đến - Phải xác định tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu và tiêu chuẩn loại trừ tài liệu không dùng đến. -Tiến hành thu thập tài liệu liên quan từ các nguồn khác nhau có liên quan đến chủ đề của mình làm.
- Ta cần phải đọc phần tóm tắt của các tài liệu thu thập đƣợc, đọc lƣớt qua để nắm đƣợc những ý chính. - Tiến hành lựa chọn những tài liệu phù hợp với tiêu chuẩn đề ra. Lƣu ý việc lƣu giữ những tài liệu đã đƣợc lựa chọn một cách cẩn thận, sắp xếp những tài liệu này tùy theo mục đích sử dụng (ví dụ sắp xếp theo chủ đề chính, chủ đề phụ, phƣơng pháp,…) - Cần tự đọc chi tiết những tài liệu đã lựa chọn và ghi chép những nội dung liên quan và thêm vào những ý kiến, quan điểm ban đầu của cá nhân - Khi viết tổng quan cần chú ý đến nội dung sau: tác giả cần bám sát mục tiêu đã đề ra và lƣu ý đƣa ra những nhận xét bình luận của bản thân đối với những thông tin thu thập đƣợc từ những tài liệu. - Chúng ta cần đọc kỹ lại phần tổng quan đã viết, sửa chữa và hoàn thành tài liệu tổng quan một cách đầy đủ chính xác.
Trong bƣớc này, tác giả có thể phải đọc lại những tài liệu đã đọc hoặc đọc thêm những tài liệu liên quan để có thêm thông tin hoặc làm rõ thông tin quan trọng liên quan đến chủ đề mà mình đang làm. - Khoảng trống của đề tài là bổ sung đƣợc phần ứng dụng vào thực tế để làm ra các sản phẩm tốt đẹp và chi phí ít cho nhà sản xuất. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề về tƣ duy 1.
Khái niệm về tư duy Trong cuộc sống con ngƣời luôn đứng trƣớc các vấn đề, sự việc cần phải lựa chọn và giải quyết. Để có những lựa chọn phù hợp, cách giải quyết đúng đắn và chính xác con ngƣời cần phải nhận biết đƣợc thực tiễn, phân tích đƣợc các yếu tố bản chất cùng với các mối quan hệ bên trong của các sự vật hiện tƣợng nhằm tìm ra những quy luật tác động của chúng. Quá trình nhận biết, phân tích, tổng hợp tìm ra quy luật và đƣa ra quyết định đó gọi là tƣ duy. Từ tìm hiểu kinh nghiệm của cuộc sống tôi thấy tƣ duy có thể hiểu là sản phẩm cao nhất của vật chất đƣợc tổ chức thông qua bộ não của con ngƣời, cũng có thể hiểu là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận.
Ta thấy trong quá trình sản xuất của con ngƣời xuất hiện tƣ duy để phản ánh thực tại một cách gián tiếp những mối quan hệ hợp quy luật. Trong các mối quan hệ xã giao dùng lời nói để diễn đạt một hiện tƣợng khách quan thì tƣ duy của con ngƣời cũng đƣợc bộc lộ và phát triển. Vậy mỗi việc làm của con ngƣời đều thể hiện một tƣ duy nhất định nào đó. Trong nghiên cứu khoa học của tâm lý học ngƣời ta thấy tƣ duy của con ngƣời là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao, chính là bộ não của con ngƣời.
Vậy ta thấy tƣ duy của con ngƣời còn phản ánh thế giới vật chất dƣới dạng các hình ảnh lý tƣởng độc đáo sáng tạo. Qua những tìm hiểu trên ta có thể hiểu một cách đơn giản đơn giản tƣ duy là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích từ bên ngoài. Những kích thích này đƣợc não bộ tiếp nhận thông qua bất kỳ giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác, thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác. Ngoài ra tƣ duy còn đƣợc rất nhiều các nhà tâm lý học nghiên cứu, một trong những nghiên cứu đầy đủ nhất của tƣ duy đã đƣợc trình bày trong công trình của X.
Theo nhà nghiên cứu khoa học này thì tƣ duy đó là 6 sự khôi phục trong ý nghĩ của chủ thể với khách thể ở một mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tƣ liệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể. Còn theo “ Tâm lý học đại cƣơng” của Nguyễn Quang Cẩn thì tƣ duy có thể hiểu là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật hiện tƣợng bằng những hình thức nhƣ cảm giác, tri giác, biểu tƣợng, phán đoán, suy luận. Từ những quan điểm trên, ta có thể rút ra các đặc điểm nổi bật của tƣ duy là - Tƣ duy là một trong quá trình phản ánh một cách tích cực thế giới khách quan, là sản phẩm của bộ não con ngƣời. - Bản chất của của tƣ duy là sự tồn tại độc lập, sự phân biệt của đối tƣợng đƣợc phản ánh qua khả năng nhận thức của con ngƣời nhằm phản ánh đối tƣợng một cách toàn diện nhất.
- Ta có thể thấy khách thể của tƣ duy đƣợc thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau từ thuộc tính này đến thuộc tính khác, nó thƣờng phụ thuộc vào chủ thể là con ngƣời. - Kết quả của quá trình tƣ duy luôn là những ý tƣởng và thƣờng đƣợc thể hiện qua ngôn ngữ và hành vi. - Ta có thể nhận thấy rằng một trong những đặc điểm nổi bật của tƣ duy là “ tính có vấn đề”. Tƣ duy thƣờng nảy sinh và phát triển khi cần khắc phục khó khăn hoặc tìm ra hƣớng giải quyết mới bằng các phƣơng tiện trí óc nhờ đó có tác dụng kích thích và phát triển tƣ duy.
Trong quá trình học tập, lao động sản xuất con ngƣời mới gặp các tình huống có vấn đề đó và nó nằm trong khả năng hiểu biết của chủ thể thì tƣ duy của con ngƣời mới đƣợc hình thành và phát triển. Tóm lại, có thể hiểu tƣ duy là một hiện tƣợng tâm lý, đồng thời là sản phẩm của bộ não con ngƣời và là hoạt động nhận thức bậc cao của con ngƣời. Hoạt động trí tuệ của con ngƣời đƣợc coi là đồng nghĩa với hoạt động tƣ duy. Ta cũng có thể thấy mục tiêu của tƣ duy là tìm ra các triết lý, lý luận, phƣơng pháp luận và các giải pháp trong các tình huống cuộc sống của con ngƣời.
Phân tích và tổng hợp Ta thấy khi làm một việc gì hoặc nghiên cứu một vấn đề gì chúng ta đều phải tiến hành phân tích nó. Vậy phân tích có thể hiểu là quá trình phân chia đối tƣợng nhận thức thành các bộ phận thông qua hoạt động của não bộ, các thành phần khác nhau từ đó chỉ ra đƣợc những thuộc tính, những đặc điểm nổi bật của đối tƣợng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể của đối tƣợng đƣợc bộc lộ rõ. Chẳng hạn khi phân tích một bài toán đƣợc hiểu là tách các dữ kiện của bài toán làm cho nó xuất hiện các yếu tố đã cho và các yếu tố cần tìm, đồng thời làm xuất hiện mối quan hệ giữa các yếu tố để đƣa bài toán về các dạng quen thuộc. Ta thấy khi làm một việc gì hoặc nghiên cứu một vấn đề gì chúng ta đều phải tiến hành tổng hợp quá trình diễn ra của nó, con ngƣời dùng trí óc để hợp nhất, sắp xếp lại hay kết hợp những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tƣợng nhận thức đã đƣợc tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tƣợng một cách bao quát, toàn diện hơn.
Trong tƣ duy của con ngƣời quá trình tổng hợp là thao tác đƣợc xem là mang dấu ấn sáng tạo và quan trọng nhất. Khi nói đến một con ngƣời có “đầu óc tổng hợp” thì cũng tƣơng tự nhƣ nói đến một con ngƣời có “đầu óc sáng tạo”. Vậy ta thấy hai quá trình phân tích và tổng hợp là hai thao tác trong một quá trình thống nhất biện chứng, sự phân tích đƣợc tiến hành theo hƣớng tổng hợp còn sự tổng hợp đƣợc tiến hành trên kết quả phân tích tổng hợp. Vì vậy đây là hai thao tác cơ bản nhất có mối quan hệ mật qua lại với nhau của quá trình tƣ duy.
Trong môn toán, thao tác phân tích và tổng hợp thƣờng đƣợc sử dụng để tìm hiểu bài toán, để nhận diện bài toán thuộc loại nào, sau đó phân tích tìm mối quan hệ giữa các yếu tố của bài toán (các yếu tố đã biết và các yếu tố cần tìm….) từ đó sẽ tổng hợp các yếu tố, điều kiện vừa phân tích để đƣa ra các bƣớc giải hoàn thiện. 8 Hơn nữa, nhờ phân tích và tổng hợp ta có thể tổng hợp các bài toán tƣơng tự thành một vài dạng toán mẫu cùng với cách giải tƣơng ứng của chúng. So sánh và tương tự Khi nghiên cứu một vấn đề nào đó ta phải tiến hành so sánh với những vấn đề khác để tìm ra cái có ích nhất. Tóm lại so sánh là một thao tác tƣ duy để xác định sự giống nhau và khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa các sự vật hiện tƣợng.
Ngoài ra, nhờ so sánh ngƣời ta còn tìm thấy những dấu hiệu bản chất và không bản chất thứ yếu của chúng. Khi xét hai đối tƣợng ta thấy hai đối tƣợng đó có giống nhau ở một số dấu hiệu và khác nhau ở một vài dấu hiệu từ đó rút ra kết luận hai đối tƣợng đó giống nhau ở một vài dấu hiệu và khác nhau ở một vài dấu hiệu đó chính là có phần tƣơng tự vậy tƣơng tự cũng là một dạng so sánh. Trong toán học để xét sự tƣơng tự ngƣời ta thƣờng quan tâm đến các khía cạnh sau: - Hai tính chất đƣợc gọi là tƣơng tự nếu chúng biểu diễn các thuộc tính hoặc các yếu tố của hai hình tƣơng tự.