CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Tổng qu n các nghi n cứu có li n qu n đến đề tài luận văn Các nghiên cứu cho thấy TDPB đã có từ rất lâu. Vào thời cổ đại, khoảng 500 năm trƣớc công nguyên, Socrates đã quan tâm đến những vấn đề của cuộc sống con ngƣời, vì ông tin rằng mọi ngƣời ai cũng biết lẽ phải, sẵn sàng làm theo lẽ phải nếu đƣợc thức tỉnh. ng coi việc tìm kiếm những bằng chứng là rất quan trọng. Ngoài ra, ông cũng đánh giá cao việc nghiên cứu một cách tỉ mỉ các lập luận và các giả định, phân tích nội dung cơ bản và vạch ra những định hƣớng cho các giả thuyết và thực hành nhƣ thế nào.
Theo ông, đó là cách tốt nhất cho việc rèn luyện TDPB, có thể nói Socrates là ngƣời đầu tiên đặt nền tảng cho TDPB. Trên cơ sở phát triển các phƣơng pháp của ông, Platon, Aristote, Greek đã đƣa ra những phƣơng pháp tƣ duy để đánh giá bản chất của sự vật. Nh ng t quả nghiên c u trên th giới Vào khoảng thế kỷ XV và XVI – thời kỳ Phục hƣng, một số trí thức ở Châu Âu (nhƣ Colette, Erasmus và Thomas Moore bắt đầu suy nghĩ một cách có phê phán về tôn giáo, nghệ thuật, xã hội, tự nhiên. Francis Bacon đã đặt nền móng cho khoa học hiện đại với việc nhấn mạnh về quá trình thu thập thông tin.
Những luận điểm của ông đã chứa đựng những vấn đề căn bản của TDPB. Sau đó khoảng 50 năm, Descartes đã viết cuốn “Rules For the Direction of Mind” Những quy tắc định hƣớng suy nghĩ. Trong tác phẩm này, tác giả bàn về việc cần có sự rèn luyện trí óc một cách có hệ thống để định hƣớng tƣ duy và phát triển phƣơng pháp suy nghĩ phê phán dựa trên nguyên tắc nghi ngờ. Đây là cuốn sách đƣợc xem là cuốn sách thứ hai về TDPB.
Đến thế kỉ XVII, mọi thứ về thế giới tự nhiên đều đƣợc giải thích bằng chứng cứ và lập luận đã đƣợc chấp nhận, thế kỉ XVIII ngƣời Pháp đƣa ra giả 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết trí tuệ của loài ngƣời đƣợc rèn luyện bởi khả năng nhận thức thế giới, họ đã có những đóng góp quan trọng cho TDPB Năm 1980 theo quan điểm của Robert J.Stemberg cho rằng TDPB có nhiều thành tố đặc trƣng, đồng quan điểm Raymond S. Nickerson 1987 , đã chỉ ra 16 đặc trƣng của một nhà TDPB tốt trên phƣơng diện kiến thức, các năng lực, thái độ và các cách thức theo thói quen. Các kĩ năng TDPB chính là các kĩ năng giải quyết vấn đề để đƣa đến tri thức đáng tin cậy. Nh ng t quả nghiên c u iệt Na Vào đầu thế kỷ XXI đã có một số nghiên cứu về TDPB trong giáo dục.
TDPB cần đƣợc rèn luyện cho HS từ cấp tiểu học đến THPT. Một số công trình trong nƣớc đã đƣợc công bố nhƣ: “ Rèn luyện TDPP của HS THPT qua dạy học chủ đề phƣơng trình và bất phƣơng trình” của Phan Thị Luyến 2008 , “Rèn luyện TDPP cho HS thông qua dạy Toán 4” của Trƣơng Thị Tố Mai (2007), “Tƣ duy phản biện” của Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang 2011 .… Trong luận văn của mình, Phan Thị Luyến 2008 đã: - Đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến TDPB và việc rèn luyện TDPB của ngƣời học một cách có hệ thống; - Chỉ ra các dấu hiệu chung của năng lực TDPB và dấu hiệu năng lực TDPB trong môn Toán, nghiên cứu đƣợc mối quan hệ giữa việc rèn luyện TDPB với việc phát huy tính tích cực học tập của HS; - Đƣa ra một số giải pháp nhằm: Nâng cao nhận thức của GV và HS về việc rèn luyện TDPB; Xây dựng hệ thống câu hỏi và thiết kế các nhiệm vụ học tập để rèn luyện kỹ năng lập luận của HS; Rèn luyện khả năng xác định các tiêu chí đánh giá và vận dụng chúng để đánh giá các ý tƣởng, giải pháp; Rèn luyện kỹ năng xem xét, phân tích đề bài để từ đó tìm cách giải quyết bài toán; Tạo cơ hội để HS tự trình bày giải pháp và nhận xét, đánh giá các giải pháp đƣợc đƣa ra; Chú trọng rèn luyện các thao tác tƣ duy cơ bản và rèn luyện cho HS 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặt câu hỏi; Tạo điều kiện để HS phát hiện và khắc phục sai lầm khi giải toán [15]. Luận văn của tác giả Trƣơng Thị Tố Mai 2007 [11] cũng đã xác định đƣợc các căn cứ để rèn luyện TDPB cho HS thông qua dạy học toán và đề xuất các biện pháp sƣ phạm nhằm hình thành và phát triển TDPB cho HS tiểu học nhƣ: rèn luyện thao tác tƣ duy tạo cơ sở rèn luyện TDPB cho HS thông qua dạy học toán 4; rèn TDPP cho HS thông qua một số tình huống dạy học tích cực. Trong những năm gần đây đã có khá nhiều luận văn, đề tài Thạc sĩ, Tiến sĩ nghiên cứu về việc phát triển tƣ duy sáng tạo cũng nhƣ tƣ duy phản biện thông qua việc giảng dạy các mảng kiến thức toán học trong chƣơng trình phổ thông.
Các đề tài cũng đã đề cập đƣợc tính tích cực của TDPB và vạch ra đƣợc một số phƣơng pháp để cho học sinh TD tích cực hơn, mục đích cuối cùng là phát huy đƣợc năng lực của ngƣời học. n đề c n ti p t c nghiên c u Qua nghiên cứu chung các tài liệu đều cho rằng tƣ duy tích cực chỉ nhằm cải tạo và phát triển những mặt tích cực của sự vật hiện tƣợng, những đề tài lớn nhƣ đã kể trên luôn coi trọng việc làm thế nào để phát huy khả năng tƣ duy phản biện của con ngƣời nói chung và của học sinh nói chung, coi vấn đề nghiên cứu ở trạng thái không vận động mà dƣới sự chi phối của con ngƣời nó mới vận động. Ở đây theo quan điểm của cá nhân tôi thì sự vật hay hiện tƣợng luôn vận động không ngừng trong thế giới tự nhiên và xã hội Theo chủ nghĩa duy vật , tức là điều này sự vật và hiện tƣợng cũng đã chứa sẵn tính phản biện của nó, con ngƣời sẽ chỉ tác động, khai thác chúng một cách có chủ hƣớng của mình để nó phát huy đƣợc tốt hơn cho mục đích sử dụng. Với quan điểm nhìn nhận tƣ duy phản biện của các nhân tôi ở cả hai phía nội tại của sự vật, hiện tƣợng bài toán và sự đánh giá khách quan của con ngƣời, sự hoài nghi tích cực, đặt sự vật hiện tƣợng vốn đã không tròn trịa vào 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không gian mở để từ đó phát huy tối đa những ƣu điểm sẵn có của nó.
Trong khuôn khổ của luận văn, tôi quan tâm đến một số phƣơng pháp nhƣng đƣợc gắn cụ thể vào phần dạy học chuyên đề tích phân , trong dạy học môn Toán ở trƣờng THPT để phát triển TDPB cho HS và cả sự phong phú về mặt nội dung của phần kiến thức này. Các vấn đề chung về tư duy 1.Khái niệ Tư duy và Tư duy Toán học Qua tìm hiểu có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tƣ duy, xin dẫn ra một vài quan điểm. “TD là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính, bản chất mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết”[17]. “TD là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt -bộ não người.
Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận”[17]. Các nhà tâm lý học Mác - xit, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đã khẳng định: “Tư duy là sản phẩm cao cấp của một dạng vật chất hữu cơ có tổ chức cao, đó là bộ não của con người. Trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan bằng những khái niệm, phán đoán.” - Dựa trên một số quan niệm về tƣ duy nhƣ trên, ta có thể hiểu: “TD là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cánh gián tiếp, là sự khái quát, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết”[15]. Tư duy toán học được hiểu là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, phát hiện ra những mối quan hệ bên trong có tính quy luật của các đối tượng toán học mà trước đó ta chưa biết.
Sản phẩm của TD toán học là những khái niệm, định lí, quy tắc, phương pháp, suy luận. mang tính khái quát tính trừu tượng cao, có tính khoa học, tính logic chặt chẽ, các tri thức có 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau được biểu đạt chủ yếu bằng ngôn ngữ viết (kí hiệu, biểu thức, công thức,. Các giai đoạn của tư duy - Xác định một vấn đề và biểu đạt nó: Tƣ duy của m i con ngƣời chỉ xuất hiện khi cá nhân gặp phải tình huống có vấn đề, khi nhận thức đƣợc vấn đề nghĩa là xác định đƣợc nhiệm vụ của tƣ duy và biểu đạt nó một cách chính xác. - Tổng hợp kiến thức có liên quan đến vấn đề đã đƣợc xác định: Giai đoạn này chính trong não bộ xuất hiện những liên tƣởng của vấn đề với những tri thức có sẵn, huy động, khai thác chúng, sắp xếp logic theo những hƣớng khác nhau để giải quyết nhiệm vụ mà tƣ duy đã đặt ra.
- Sàng lọc các liên tƣởng xuất hiện và hình thành giả thuyết: Những tri thức, những liên tƣởng khi xuất hiện ở giai đoạn đầu còn mang tính chất phổ quát, bao chùm chƣa đƣợc phân biệt và khu hoá kỹ càng cho phù hợp nhất với nhiệm vụ mà tƣ duy đã đặt ra. - Kiểm tra tính đúng của giả thuyết: Kiểm tra giả thuyết có thể bằng thực hành hoặc thông qua thực tiễn, kết quả của việc kiểm tra dẫn đến sự khẳng định, phủ định hoặc chính xác hóa giả thuyết đã nêu. Nếu giả thuyết bị phủ định thì một quá trình hình thành tƣ duy mới lại đƣợc bắt đầu. - Giải quyết nhiệm vụ tƣ duy: Khi giả thuyết đã đƣợc xác định và chính xác hóa thì nó đƣợc thực hiện, tức là đi đến câu trả lời cuối cùng cho vấn đề đƣợc đặt ra.