CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp Theo NH Thế giới (WB) thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là những DN có quy mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa. Trong đó, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Theo Điều 4 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì doanh nghiệp được hiểu như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Như vậy DN là tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường và chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt động kinh doanh của mình, tùy theo mục đích thành lập mà mỗi DN có mục đích hoạt động khác nhau nhưng trừ một số ít các DN hoạt động vì mục tiêu xã hội còn mục đích của các DN là tối đa hóa lợi nhuận.2 Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV Chính Phủ ban hành ngày 30/06/2009 thì khái niệm DNNVV được nêu rõ: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã được đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), ngoài các tiêu chí trên Nghị định này còn căn cứ vào ngành kinh doanh để phân loại, cụ thể: Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com QUI MÔ Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động vốn vốn KHU VỰC I. Nông, 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 lâm nghiệp trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.
Thương 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 50 mại và dịch trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến vụ 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn : Nghị định 56/2009/NĐ -CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV 1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Viện nghiên cứu kinh tế phát triển (2009) đã tổng hợp các nghiên cứu trước chỉ ra rằng DNNVV có những nét điển hình sau đây: Một là, tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế: DNNVV hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng ,thương mại, dịch vụ,.và dưới mọi hình thức như: DN nhà nước, DNTN, CTCP, CTTNHH, DN có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh doanh cá thể. Hai là, DNNVV có tính năng động và dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường DNNVV có tính năng động và dễ thích nghi trước những thay đổi của thị trường do các DNNVV có mức đầu tư ban đầu thấp, sử dụng ít lao động và tận dụng các nguồn lực tại chỗ, vì vậy có khả năng chuyển hướng kinh doanh, phương án sản xuất. Mặt khác, do DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế, sản phẩm đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn. Nên nếu không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, thì DNNVV sẽ dễ dàng hơn các DN có quy mô vốn lớn trong việc chuyển sang loại hình khác để thích nghi với nhu cầu của thị trường.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba là, hạn chế về sản phẩm dịch vụ và năng lực tài chính Do đặc điểm quy mô vốn nhỏ, khả năng tiếp cận các nguồn tài chính thấp nên các DNNVV thường gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô, đầu tư các dự án lớn, không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào việc nâng cấp, đổi mới và mua sắm máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại. Ngoài ra, DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, hoạt động marketing còn kém hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị trường. Những điều này đã hạn chế khả năng chiếm lĩnh thị trường, cũng như việc phát triển DN, dẫn đến sức cạnh tranh của các DNNVV thường thấp.
Bốn là, trình độ lao động và năng lực quản lý còn thấp Lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo tay nghề và thiếu kỹ năng, đồng thời cũng ít được chủ DN quan tâm đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ trong khi chất lượng nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các DN. Về phía chủ sở hữu DN, kỹ năng của nhà lãnh đạo DN cũng còn hạn chế, số lượng DNNVV có chủ DN, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Bởi ở nước ta, các DNNVV phần lớn đi lên từ các mô hình sản xuất gia đình, cá thể nhỏ lẻ, khi có cơ hội làm ăn thì thành lập DN và họ trở thành giám đốc; một bộ phận khác làm giám đốc DN theo con đường “cha truyền con nối” bố mẹ gây dựng cơ đồ và con cái sẽ trở thành giám đốc DN mà không phải trải qua một trường lớp đào tạo nào…do đó ảnh hưởng rất lớn đến hoạch định chiến lược kinh doanh và quản trị nội bộ, nhất là quản trị tài chính của DNNVV dẫn đến việc cân đối và sử dụng vốn không hiệu quả, bố trí và sử dụng các nguồn lực đạt hiệu quả thấp, cùng với chế độ sổ sách, báo cáo và ý thức chấp hành các chế độ, chính sách, các quy định chưa cao (Lưu Đình Chinh, 2015).2 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng NH là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (NH/TCTD khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (DN, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Bùi Diệu Anh, 2009; Hồ Diệu, 2000.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Thứ nhất, chủ thể tham gia gồm một bên là NH và bên còn lại là các chủ thể khác trong nền kinh tế như các DN, hộ gia đình,. Với chức năng trung gian tín dụng, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một mặt giúp NH có thể tập trung được nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi cung ứng cho người có nhu cầu vốn để đáp ứng nhiều mục đích khác nhau.
Thứ hai, vốn tín dụng cấp chủ yếu là tiền tệ, cũng có thể là tài sản. NH có thể cho vay bằng tiền hoặc tài sản dưới hình thức cho thuê tài chính. Chính đặc điểm này mà phạm vi và quy mô của tín dụng NH lớn hơn rất nhiều so với tín dụng thương mại và các loại hình tín dụng khác. Thứ ba, thời hạn của tín dụng NH cũng rất linh hoạt.
Với khả năng cung ứng tín dụng với những thời hạn khác nhau, tín dụng NH đã thu hút rộng rãi mọi đối tượng tham gia giao dịch, tạo ưu thế vượt trội so với các hình thức tín dụng khác. Thứ tư, công cụ của tín dụng NH cũng rất linh hoạt, có thể là kỳ phiếu, trái phiếu NH, các hợp đồng tín dụng. Nhờ các công cụ tín dụng có thể lưu thông đã làm tăng tính thanh khoản cho bản thân NH và cả cho khách hàng của mình. Thứ năm, tín dụng NH là hình thức tín dụng mang tính chất gián tiếp, trong đó NH là trung gian tín dụng giữa những người thiếu vốn và những người nhàn rỗi vốn, do đó không cần phải có sự trùng hợp nhu cầu về thời gian, về khối lượng mới chuyển giao vốn được.
Đặc điểm này khiến NH trở thành cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tập trung được nguồn vốn tiết kiệm to lớn trong dân cư để đầu tư có hiệu quả cho nền kinh tế (Nguyễn Minh Kiều, 2013; Bùi Diệu Anh, 2009).3 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Nghiên cứu của Santiago (2013) về tín dụng NH, những khó khăn trong tiếp cận tài chính của DNNVV tại Tây Ban Nha đã nêu ra tầm quan trọng của tín dụng NH đối với DNNVV. Tín dụng NH giúp các DNNVV tồn tại, phát triển và hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả: Đặc trưng của tín dụng NH là nguyên tắc hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Do đó thúc đẩy các DN phải sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay vốn, đảm bảo kinh doanh có lợi nhuận để trả được nợ NH và có tích luỹ, đảm bảo tiến trình hoạt động và có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong quá trình cấp tín dụng thì NH thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc DN phải sử dụng vốn đúng mục đích.
Hơn nữa, tín dụng NH cũng góp phần buộc DN làm ăn đúng đắn thông qua việc kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra qua các báo cáo tài chính của DN. Như vậy, nguồn vốn tín dụng không những đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh giúp DN tồn tại, phát triển mà nó còn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm cho các DN có trách nhiệm hơn với nguồn vốn vay, từ đó có ý thức sử dụng vốn một cách hiệu quả, tiết kiệm và đúng mục đích.