Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN 1. Thủy sản Thủy sản là những loại sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật hay động vật sinh trưởng và phát triển trong môi trường nước, được dùng làm thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, sản xuất dược liệu… “Hệ thống thủy sản (aquacultural production system) là một dạng nông trại canh tác trong môi trường nước để nuôi trồng các loại giáp xác, động vật thân mềm, thủy sinh để nhằm thỏa mãn mục tiêu tăng thu nhập, sinh hoạt và tiêu dùng cho nông dân” (Đặng Văn Phan, 2017). Ngành thủy sản Ngành thủy sản hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản, chế biến thủy sản và các ngành dịch vụ phục vụ bổ trợ khác.
Nuôi trồng thủy sản là sự tác động đến quá trình sinh trưởng và phát triển của các loại động vật, thực vật dưới nước trong một môi trường có kiểm soát, nhằm tạo nguồn sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người về thực phẩm, sản xuất hàng hóa, nguyên liệu chế biến. Khai thác thủy sản (đánh bắt thủy sản) là những hoạt động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản có trong tự nhiên, nhằm tạo nguồn sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người về thực phẩm, sản xuất hàng hóa, nguyên liệu chế biến. Công nghiệp chế biến thủy sản là hoạt động tiếp theo của ngành khai thác, nuôi trồng nhằm bảo tồn, giữ gìn chất, nâng cao giá trị nông sản, đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng lợi nhuận. Phát triển bền vững * Khái niệm phát triển bền vững Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn 10 những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”.
Ở Việt Nam, trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững được định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Theo đó, phát triển bền vững ngành thủy sản là hoạt động khai thác nuôi trồng các loài sinh vật dưới nước sau cho vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế lâu dài, ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động vừa góp phần bảo vệ môi trường, cân bằng hệ sinh thái môi trường, nhất là môi trường nước và hệ sinh thái rừng ngập mặn. * Những vấn đề cần giải quyết để phát triển bền vững thủy sản: - Vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu Việt Nam được đánh giá là một trong 27 quốc gia dễ tổn thương do biến đổi khí hậu. Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đã công bố đánh giá tác động của biến đổi khí hậu sẽ làm đại dương ấm dần lên và bị a-xít hóa, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến đánh bắt thủy sản xa bờ.
Các hoạt động nuôi thủy sản ven bờ cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của nước biển dâng, lũ lụt. Những năm gần đây, người nuôi thủy sản ở châu Á thường bị tổn thất nặng nề do ao nuôi, lồng bè nuôi đến kỳ thu hoạch gặp phải mưa lũ lớn. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, tác động của nhiệt độ tăng làm dịch bệnh phát sinh gây thiệt hại lớn đối với thu nhập của người nuôi cá tra. Cụ thể, với tốc độ biến đổi khí hậu hiện nay, nghề nuôi cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long có thể thiệt hại 200 triệu đồng/ha vào năm 2020 và thiệt hại gấp 3 lần vào năm 2050.
Hiện tượng mưa lớn nhiều đợt, nhiệt độ cao, độ mặn gia tăng đã thay đổi cấu trúc hệ sinh thái thủy sinh, làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của tôm nuôi ven biển. Thậm chí, dịch bệnh ngày càng xảy ra nhiều trên các giống thủy sản nuôi trồng nói chung, các loại tôm nuôi nói riêng, làm cho người nuôi giảm lợi nhuận, thậm chí thua lỗ nếu không được xử lý kịp thời. 11 Ngành thủy sản muốn thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay, cần có hành động cụ thể của chính người sản xuất, sự tham gia của các nhà khoa học để dự báo, sản xuất con giống, nghiên cứu công nghệ mới cho ngành thủy sản, chuyển đổi cơ cấu thủy sản, mô hình phù hợp với đặc điểm sinh thái của từng khu vực, theo mùa,…. Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, ban hành hướng dẫn về nuôi trồng thủy sản ứng phó với sự thay đổi của thời tiết, khi nắng nóng, hoặc lúc thời tiết quá lạnh, ứng phó các vấn đề thiên tai để hạn chế sự thiệt hại, thất thu của các trang trại và hộ chăn nuôi.
Thị trường tiêu thụ - Vấn đề nâng cao động trình độ cho lao động ngành thủy sản Xu thế Hội nhập kinh tế thế giới, muốn phát triển bền vững cần có nguồn nhân lực trình độ cao về chuyên môn kỹ thuật, nắm vững quy trình công nghệ, biết sử dụng và khai thác phương tiện đánh bắt thủy sản hiệu quả, sáng tạo ra các sản phẩm chế biết đáp ứng thị trường. Ngoài ra còn có kiến thức về luật kinh tế quốc tế, quy định về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, chiếc lược kinh doanh, khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Như vậy, giáo dục và đào tạo là cái gốc cho việc đảm bảo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên tất cả các lĩnh vực nêu trên. - Vấn đề phát triển công nghiệp chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh Hướng tới khả năng phát triển bền vững cần duy trì thị trường một cách bền vững.
Như vậy, cần phải tạo ra sản phẩm đáp ứng được quy chuẩn, quy định quốc tế về VSATTP, có thể truy xuất được nguồn gốc. Mặt khác, cần tạo ra sản phẩm có thể cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại trên trường quốc tế. Ngành công nghiệp chế biến giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị thủy sản, đồng thời cần có giải pháp tạo ra các sản phẩm mới, đa dạng hơn, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Vấn đề môi trường và cân bằng hệ sinh thái Cần có giải pháp khai thác song song với bảo tồn, duy trì thành phần loài TS.
Nghiên cứu lai tạo các giống loài mới bổ sung vào nguồn lợi thủy sản. Nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản cần tránh gây ô nhiễm nguồn nước, xử lý ao nuôi, xử lý chất thải trước khi đưa vào môi trường tự nhiên. Vai trò của ngành thủy sản 1. Ngành thủy sản cung cấp thực phẩm dinh dưỡng, dược liệu quý và mỹ phẩm chất lượng cho con người Việt Nam có chiều dài bờ biển khoảng 3.260km, diện tích vùng biển nước ta khoảng 1 triệu km2, mạng lưới sông, ngòi, kênh rạch dày đặc.
Đó là lợi thế lớn nhất cho nước ta phát triển mạnh ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản. Từ đó, cung cấp khối lượng lớn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, sản xuất thức ăn gia súc, mỹ phẩm và dược phẩm. Thủy sản cung cấp thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng cho con người. Chúng thường xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày của mỗi gia đình.
Các loài này cung cấp protein, canxi, chất đạm, omega 3, vitamin D, DHA ….rất cần thiết cho cơ thể. Giá trị dinh dưỡng mà thủy sản, đặc biệt là hải sản mang lại cao hơn và ít gây béo phì hơn các loại thịt động vật rất nhiều. Do đó, nó ngày càng được người dân khắp thế giới ưa chuộng. So sánh thành phần dinh dưỡng của một số loại thực phẩm Nguồn: Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia dinh dưỡng 13 Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia dinh dưỡng cho thấy, một số chất dinh dưỡng cần thiết như Protein và axit amin cần thiết cho người có trong cá, tôm chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn thịt, trứng.
Ngành thủy sản, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến thủy sản tạo nguồn xuất khẩu, thu ngoại tệ Ở Việt Nam, ngành công nghiệp chế biến thủy sản là một trong những ngành mũi nhọn vừa tạo nguồn hàng xuất khẩu lớn thu ngoại tệ, giúp nâng cao giá trị thủy sản, vừa giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động. Sản phẩm thủy sản đã và đang trở thành một trong những nguồn xuất khẩu chính ở nhiều quốc gia trên thế giới, nơi có điều kiện thuận lợi như giáp biển, mạng lưới sông ngòi, ao hồ dày đặc, trình độ lao động cao. Mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức từ các thị trường như tác động của chương trình thanh tra cá da trơn và việc EU cảnh báo thẻ vàng đối với hải sản Việt Nam, yêu cầu chất lượng của các thị trường khó tính, tính đa dạng trong sản phẩm chế biến còn hạn chế, nhưng ngành thủy sản ngành càng có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, tăng tích lũy vốn cho quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Trong nhiều năm, kim ngạch XK thủy sản của Việt Nam luôn đứng thứ hạng cao và là một trong các mặt hàng XK chủ lực của nước ta.
Ngành thủy sản cung cấp phụ phẩm cho ngành chăn nuôi Các phụ phẩm từ thủy sản như bột cá, vỏ sò, vỏ tôm, cua…là nguyên liệu của ngành công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia cầm. Theo ước tính của Tổ chức Bột cá và Dầu cá Quốc tế (IFFO), ngành nuôi trồng thủy sản đã sử dụng 73% bột cá sản xuất trong năm 2010, do đó ngành này đã gián tiếp góp phần vào việc sản xuất thực phẩm toàn cầu. Đối với dầu cá, ước tính đã có khoảng 71% sản lượng được dùng làm thức ăn thủy sản và 26% dành cho con người. Ở nhiều quốc gia, các nhà máy chế biến thủy sản thường ở quy mô vừa và nhỏ, do đó khối lượng các phế phẩm, phụ phẩm thải ra có thể không đủ để làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất bột cá.
Dùng phương pháp ủ lên men phế phẩm, phụ phẩm này tương đối thuận lợi và rẻ tiền hơn so với việc phải bảo quản chúng.