CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trên thế giới đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu chuyên nghiên cứu về thương hiệu: David Aaker - chuyên gia thương hiệu hàng đầu của Mỹ, ông là tác giả của hơn 100 bài báo, 14 cuốn sách về marketing và thương hiệu, 5 cuốn sách về thương hiệu và quản trị thương hiệu, như “Brand relevance: Making Competitors Irrelevant”. Ông cũng chính là tác giả của mô hình Aaker, một mô hình marketing xem tài sản thương hiệu như một sự kết hợp của sự nhận thức về thương hiệu, lòng trung thành với thương hiệu và liên kết thương hiệu. Ngoài ra có thể kể đến Jack Trout và Al Ries nổi danh thế giới với tác phầm: “Định vị - cuộc chiến tranh giành vị trí trong đầu khách hàng”.
Hai ông đã cho ra đời khái niệm “định vị” thuật ngữ mà cho đến nay vẫn là “kim chỉ nam” của ngành tiếp thị và xây dựng thương hiệu khắp thế giới. Bên cạnh đó Al Ries và Jack Trout cũng rất tâm huyết khi đưa ra cuốn sách “22 quy luật bất biến trong marketing” có giá trị thực tiễn cao, những quy luật này ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của một doanh nghiệp cũng như một thương hiệu. Hay như Richard Moore - Giám đốc điều hành sáng tạo của Công ty Richard Moore Associates, tác giả của nhiều bài báo về thương hiệu trong những năm gần đây, ba cuốn sách đã xuất bản tại việt nam: Marketing & Thiết kế (1995); Thương hiệu dành cho Lãnh đạo (2003) và Đầu tư cho Chiến lược hình ảnh thương hiệu (2009). Trong nước, thương hiệu là một trong những vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học và được công bố dưới nhiều hình thức như sách báo, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp.
4 - Thương hiệu với nhà quản lý, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội 2006 của PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh, đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của thương hiệu và những ứng dụng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Quản trị tài sản nhãn hiệu, Nhà xuất bản trẻ TP Hồ Chí Minh 2006 của tác giả Đài Công Bình, tác giả nêu những vấn đề quản trị thương hiệu như chất lượng, sự liên kết tên, biểu tượng, Sologan và các mở rộng tiếp sức cho nhãn hiệu. - Xây dựng và phát triển thương hiệu, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội 2007 của PGS.TS Vũ Chí Lộc và ThS Lê Thị Thu Hà, trình bày thương hiệu và vai trò thương hiệu đối với doanh nghiệp, quy trình xây dựng và phát triển thương hiệu. - Xây dựng và phát triển thương hiệu, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội 2007 của PGS.TS Vũ Chí Lộc và ThS Lê Thị Thu Hà, trình bày thương hiệu và vai trò thương hiệu đối với doanh nghiệp, quy trình xây dựng và phát triển thương hiệu.
- Quản trị thương hiệu, Nhà xuất bản tài chính 2014 của tác giả TS. Phạm Thị Lan Hương (Chủ biên) PGS. Lê Thế Giới, TS. Lê Thị Minh Hằng, trình bày những lý thuyết căng bản về thƣơng hiệu và hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu.
- Quản trị Marketing, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân 2011, Tác giả PGS. Trương Đình Chiến, trình bày về những lý thuyết cơ bản trong hoạt động phát triển Marketing trong đó có các công cụ chiến lược phát triển thương hiệu như Quảng cáo, PR, Hội chợ triển lãm, Truyền thông nội bộ và những tác động các yếu tố khách quan đến hoạt động Marketing thươ hiệu. - Giáo trình Quản trị Chiến lược, Nhà xuất bản thống kê 2015 tác giả PGS.TS Nguyễn Hoàng Long, PGS. Nguyễn Hoàng Việt, với nội dung 5 chi tiết hoạt động quản tri chiến lược chung cho doanh nghiệp được chia thành quản trị chiến lược cho từng bộ phận.
Ở tầm quốc gia cũng đã có nhiều chương trình hành động như: “Chương trình Thương hiệu Quốc gia” được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2003, giao Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) là cơ quan thường trực, chịu trách nhiệm phối hợp với các Bộ, Ngành triển khai. “Chương trình thương hiệu quốc gia” là chương trình duy nhất do Chính phủ Việt Nam tiến hành với mục đích quảng bá hình ảnh quốc gia, thương hiệu quốc gia thông qua thương hiệu sản phẩm. Đây là một chương trình xúc tiến thương mại quốc gia dài hạn, nhằm xây dựng, quảng bá nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước. Chương trình giúp các doanh nghiệp Việt Nam tạo chỗ đứng vững vàng trên thị trường trong nước và có điều kiện phát triển thương hiệu của mình ra thế giới, thông qua đó củng cố hình ảnh quốc gia trên thị trường quốc tế.
Năm 2013, đề tài “Giải pháp phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam” là đề tài mang tính đột phá được Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch giao cho Viện Nghiên cứu phát triển du lịch thực hiện nhằm giải quyết mục tiêu làm rõ cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đáp ứng xu thế, yêu cầu phát triển của ngành du lịch trong giai đoạn mới. Đề tài đã tiếp cận theo một quy trình nghiên cứu toàn diện từ lý luận đến thực tiễn, so sánh quốc tế, áp dụng các phương pháp và kỹ thuật trong nghiên cứu xây dựng thương hiệu, nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá. Khái niệm về thương hiệu 1. Khái niệm về thương hiệu Thuật ngữ thương hiệu (trademark) được dùng để chỉ một biểu tượng, một hàng hóa, dịch vụ hoặc một doanh nghiệp.
Đó là dấu hiệu để phân 6 biệt hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hóa của doanh nghiệp khác trên thị trường. Các dấu hiệu có thể là chữ viết, hình vẽ, sự thể hiện màu sắc, âm thanh hay trong cách đóng gói bao bì. Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kì: “Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tổng thể các yếu tố kể trên nhằm xác định một sản phẩm hay một dịch vụ của một (hay một nhóm) sản phẩm hay dịch vụ của một (một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh”. Định nghĩa của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (W/PO): “Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.
Đối với doanh nghiệp, thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ với dấu hiệu của doanh nghiệp gắn lên bề mặt sản phẩm dịch vụ nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ. Thương hiệu là một tài sản vô hình quan trọng và đối với các doanh nghiệp lớn, giá trị thương hiệu của doanh nghiệp chiếm một phần đáng kể trong tổng giá trị của doanh nghiệp” Theo Philip Kotler một chuyên gia marketing hàng đầu của thế giới thì: “Thương hiệu là tên, cụm từ, ký hiệu, biểu tượng hay mẫu mã hoặc một sự kết hợp những cái đó nhằm mục đích nhận diện hàng hóa hay dịch vụ của một người bán hay một nhóm người bán và để phân biệt họ với các đối thủ cạnh tranh” (Kotler and Armstrong 1993, p. Thương hiệu được nhìn nhận cách khác dân dã hơn gọi là “chính hiệu”, với ý nghĩa là một cái gì đó có thực và duy nhất, thông thường thì đó là một cái tên hay là sự kết hợp của nhiều chữ cái và logo đã được đăng ký hợp pháp, ngoài ra tùy theo luật pháp của các nước thì đó có thể là âm thanh, màu sắc, mùi vị, sự kết hợp giữa các yếu tố trên để nhận biết và phân biệt sản phẩm đó với các sản phẩm cùng loại của các công ty khác nhau. 7 Thương hiệu là thuật ngữ được dùng để chỉ bất cứ yếu tố gì (tên gọi, biểu tượng, mùi vị, âm thanh, biểu ngữ.) mà doanh nghiệp dùng để chỉ định sản phẩm, dịch vụ của mình hoặc chính mình trên thị trường.
Nó có thể là cả những yếu tố không được pháp luật bảo hộ và những yếu tố được pháp luật bảo hộ nhưng không dưới danh nghĩa nhãn hiệu như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý… Như vậy, qua những định nghĩa trên, có thể thấy rằng, tựu chung thương hiệu là một tên gọi, một tổ hợp màu sắc, biểu tượng, hình tượng, dấu hiệu để phân biệt sản phẩm hay công ty này với sản phẩm hay công ty khác. Thương hiệu là niềm tin, là tình yêu mà khách hàng và công chúng dành cho doanh nghiệp. Ở Việt nam, khái niệm thương hiệu trước đây thường được đồng nghĩa với khái niệm nhãn hiệu hàng hóa. Tại Điều 4 - Khoản 16 - Luật sửa đổi,bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 2009 định nghĩa: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
Liên quan đến khái niệm thương hiệu còn có các khái niệm tên thương mại, chỉ dẫn địa lý. “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. “Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.” (Theo Điều 76 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 2009) 8 Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng; Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh; Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinhdoanh; Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sửdụng.