Chương 1 : Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về trái phiếu doanh nghiệp, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu Chương 3 : Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2018 – 2022 Chương 4 : Kết luận và khuyến nghị phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP, THỊ TRƢỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan nghiên cứu về trái phiếu doanh nghiệp, thị trƣờng trái phiếu doanh nghiệp và phát triển thị trƣờng trái phiếu Doanh nghiệp 1. Các nghiên cứu về sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Trái phiếu doanh nghiệp đã được các doanh nghiệp sử dụng rộng rãi để huy động vốn cho các hoạt động kinh doanh và tài trợ nợ, đặc biệt là trong dài hạn. Đây cũng là một kênh đầu tư phổ biến cho các nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận ổn định bằng cách nắm giữ trái phiếu đến hạn hoặc lợi tức cao thông qua giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã tăng gần gấp ba lần quy mô kể từ năm 2000, đạt 49 nghìn tỷ đô la vào năm 2013. Độ sâu thị trường (số dư nợ tính theo tỷ lệ % GDP) đang tăng lên giữa các thị trường phát triển và mới nổi, trung bình là 161% đối với các thị trường phát triển và 24% đối với các thị trường mới nổi vào năm 2013. Đồng thời, tốc độ tăng quy mô CAGR của các thị trường mới nổi là 23%, tăng nhanh hơn tốc độ các thị trường phát triển (4%). Lê Phương Dung và cộng sự (2015, 2016) tính giá trị trung bình của việc phát hành trái phiếu của các công ty trong giai đoạn 1970-2013 cho thấy các nước châu Phi có thị trường trái phiếu doanh nghiệp khá phát triển trong khi các nước Châu Á lại tỏ ra yếu thế hơn.
Mặc dù có nhiều quốc gia phát triển ở châu Âu, nhưng mức độ phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở khu vực này lại nhỉnh hơn so với châu Á. Châu Đại Dương sở hữu lượng trái phiếu doanh nghiệp trung bình cao nhất. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thị trường trái phiếu chịu tác động tích cực của tỷ giá hối đoái, nhưng khi xem xét riêng các quốc gia phát triển và đang phát triển, nhóm 5 tác giả đã tìm ra các bằng chứng về tác động không nhất quán của các yếu tố quyết định vĩ mô. Về thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam, Đỗ Ngọc Quỳnh (2015) cho rằng cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước cho tới năm 2000, các giao dịch phát hành trái phiếu doanh nghiệp chỉ được thực hiện một cách thưa thớt với quy mô nhỏ như trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Công ty Cơ điện lạnh REE, xi măng Hoàng Thạch……Trong bối cảnh nguồn vốn từ các Tổ chức Tín dụng có hạn, phát hành cổ phiếu gặp nhiều khó khăn thì huy động vốn qua kênh Trái phiếu đã cho thấy nhiều lợi thế.
Trong khi đó, Vũ Hồng Thanh (2021) cho rằng thị trường trái phiếu Việt Nam còn thiếu các cơ sở dữ liệu về trái phiếu doanh nghiệp mới được hình thành, hay dữ liệu chưa đủ độ sâu rộng để có thể cung cấp thông tin cần thiết cho nhà đầu tư. Đồng thời giao dịch thứ cấp còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu đã đưa ra 7 bước trong mô hình quản lý rủi ro Thị trường trái phiếu như: (i) Xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro (ii) Triển khai kế hoạch quản lý rủi ro (iii) Thiết lập phạm vi rủi ro (iv) Nhận dạng rủi ro (v) Đánh giá rủi ro (vi) Chọn phương pháp xử lý rủi ro và (vii) Điều chỉnh kế hoạch quản lý rủi ro. Nguyễn Thị Nhung (2018) sử dụng bộ chỉ số để đo lường tính thanh khoản trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam bao gồm: Quy mô phát hành; Tốc độ tăng trưởng của số lượng trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành; Giá trị giao dịch trái phiếu doanh nghiệp; Dư nợ thị trường và hệ số vòng quay.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam có tính thanh khoản rất thấp trên cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Tác giả đã liệt kê ra 4 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là (1) Sự yếu kém cả nguồn cung và cầu trái phiếu doanh nghiệp (2) Sự hạn chế của các quy định pháp luật liên quan (3) Thiếu các nhà tạo lập thị trường và (4) Thiếu các tổ chức xếp hạng và định giá uy tín. Nguyễn Quốc Khải (2021) tìm hiểu tác động của độ nhạy cảm thông tin đối với trái phiếu doanh nghiệp trong giai đoạn từ quý 4/2019 đến quý 2/2021 thông qua việc phản ứng của thị trường đối với sự thay đổi của đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính công ty. Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng khi có sự thay đổi của đòn 6 bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính thì chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu doanh nghiệp và tín phiếu kho bạc nhà nước có sự thay đổi.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra đối với đòn bẩy hoạt động, thay vì tăng khoảng 0,36% khi chưa có công bố thông tin thì khi có công bố thông tin chỉ còn tăng thêm 0,058%. Tương tự đối với đòn bẩy tài chính, khi chưa có công bố thông tin thì tác động của đòn bẩy tài chính làm giảm chênh lệch lãi suất đi 0,9% trong khi giảm đến 1,2% khi có công bố thông tin đến từ Ngân hàng nhà nước. Các nghiên cứu về vai trò của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Herring& Chatusripitak (2007) khẳng định sự phát triển của thị trường trái phiếu là chìa khóa cho hiệu quả của hệ thống kinh tế, đồng thời nó sẽ mang lại nhiều cơ hội hơn cho các nhà đầu tư và góp phần hoàn thiện thị trường tài chính ở góc độ chiều sâu. Khi phân tích thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Châu Á, Kowalewski & Pisany (2021) gọi đây là “ lốp dự phòng” do đã bù đắp được sự sụt giảm cho vay từ các tổ chức tài chính Châu Âu và Hoa Kỳ sau khi khủng hoảng kinh tế năm 2008 xảy ra.
Theo các tác giả, khả năng khủng hoảng tài chính có thể giảm xuống nếu một quốc gia có nền tảng thị trường và luật pháp cho phép thị trường vốn của mình hoạt động mặc dù hệ thống ngân hàng không thể sử dụng. Sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp có thể đã giúp giảm thiểu hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 ở Châu Á. Theo Boyarchenko và cộng sự (2022), trái phiếu doanh nghiệp là nguồn dự trữ tài chính cho các tập đoàn phi tài chính của Hoa Kỳ và là nguồn đảm bảo đầu tư quan trọng cho các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và quỹ tương hỗ. Do đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp gặp khó khăn có thể làm giảm khả năng tiếp cận tín dụng cho các khách hàng vay doanh nghiệp, vừa làm giảm cơ hội đầu tư cho các phân ngành tài chính chủ chốt.
Nghiên cứu chỉ ra những khó khăn của thị trường trái phiếu doanh nghiệp và một số phương pháp đo lường sự khó khăn của thị trường trái phiếu doanh nghiệp để áp dụng các biện pháp phù hợp. Các nghiên cứu về giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Sharma (2001) khi nghiên cứu thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Đông Nam Á, đã chỉ ra rằng việc cải cách khu vực doanh nghiệp, ngân hàng, thực thi các quy trình pháp lý và nâng cao tính minh bạch trong kinh doanh là các giải pháp cần thiết để tăng sức hấp dẫn của thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Đồng thời, việc tăng cường cơ sở hạ tầng thị trường và cải thiện các quy định liên quan đến phát hành trái phiếu và hoạt động của trái phiếu cần được chú trọng. White (2014) cho rằng thị trường TPDN là thị trường cung cấp nguồn vốn nhiều nhất và lớn nhất cho doanh nghiệp trong thời gian gần đây.
Để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp thì việc chuẩn hóa các sản phẩm được cung cấp, cùng với đó là một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định sẽ tạo ra sức thanh khoản cho các sản phẩm trái phiếu, từ đó sẽ thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực này. Tại Việt Nam, Trịnh Mai Vân (2010) nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường trái phiếu Hàn Quốc sau đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tác giả đã chỉ rõ rằng việc lựa chọn phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp trước trái phiếu Chính phủ của Hàn Quốc đã làm cho thị trường phát triển một cách mất cân đối. Sau khi phân tích thực trạng Thị trường trái phiếu ở Việt Nam giai đoạn 2000-2009, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển cho thị trường Việt Nam như: Dần tự do hóa hệ thống lãi suất theo hướng cân bằng theo thị trường, đồng thời dựa vào dự báo để thực hiện việc phát hành trái phiếu Chính phủ theo lộ trình; Tổ chức đấu giá trái phiếu Chính phủ để xác định các mức lãi suất chiết khấu khi định giá các tài sản tài chính khác trong đó có trái phiếu doanh nghiệp; Hoàn thiện, bổ sung cơ sở dữ liệu và các phương pháp dự báo để tiến hành dự báo về thâm hụt ngân sách cho tăng trưởng theo mục tiêu tăng trưởng của từng thời kỳ… Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn mang tính chất khái quát về Thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chủ yếu giải pháp tập trung vào thị trường trái phiếu Chính phủ.
Trần Vinh Quang (2017) đã làm rõ những vấn đề cơ bản về trái phiếu doanh nghiệp và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời nêu ra kinh nghiệm quốc tế về phát triển Thị trường trái phiếu tại Việt Nam.