phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương: 7 z Chƣơng 1: Những lý luận chung về phát triển sản phẩm cho vay bán lẻ của NHTM Chƣơng 2: Hoạt động cho vay bán lẻ tại Vietcombank Hải Dương Chƣơng 3: Giải pháp phát triển sản phẩm cho vay bán lẻ tại Vietcombank Hải Dương 8 z CHƢƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHO VAY BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Hoạt động cho vay 1. Khái niệm về cho vay Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trử, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Đặc biệt, đối với các NHTM Việt Nam thì lợi nhuận từ hoạt động cho vay đem lại chiếm một phần rất lớn trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng (chiếm từ 70 – 85% tổng lợi nhuận).
Do vậy, cho vay được xem là hoạt động chủ đạo của các NHTM Việt Nam. Nhà kinh tế pháp Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng như là “Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”. Ở đây, chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào cũng vì có sự xen lẫn đó, cho nên có sự bất trắc, rủi do xảy ra và cần có sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng. Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật, từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khi đến hạn thì người sử dụng phải hoàn trả cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Phần chênh lệch tăng thêm được gọi là phần lãi. Đây chính là cái giá mà người sử dụng phải bỏ ra để được quyền sử dụng một lượng tiền tệ hay hiện vật trong một khoảng thời gian nhất định. Thuật ngữ cho vay hay còn gọi là tín dụng xuất phát từ gốc La tinh, có nghĩa là long tin, sự tín nhiệm. Quan hệ tín dụng đã xuất hiện trong xã hội từ rất lâu, hình thái dưới thời sơ khai chủ yếu là hiện vật và dưới hình thức cho 9 z vay nặng lãi trên cơ sở nền sản xuất hàng hóa nhỏ, kém phát triển, đến thời kỳ phong kiến và bước sang thời kỳ đại công nghiệp của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, quan hệ tín dụng phát triển thêm một bước không chỉ bằng hiện vật và bằng hiện kim với các hình thức tiến bộ hơn như tín dụng ngân hàng, tín dụng Chính phủ… Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự ra đời của các ngân hàng mạnh mẽ, tín dụng là quan hệ giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng với các công ty, doanh nghiệp, cá nhân… được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay các đối tượng trên.
Như vậy, trong mối quan hệ trên, ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận các nguồn tiền gửi nhàn rỗi từ dân cư, doanh nghiệp, với tư cách người cho vay ngân hàng cung cấp vốn cho nền kinh tế ở mọi thành phần khác nhau. Theo Quyết định số 1627//2001/QĐ-NHNN, ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dung với khách hàng: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Định nghĩa trên được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình 1.
Phân loại cho vay Trong nền kinh tế thị trường hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình tín dụng khác nhau. Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng. Trên thực tế việc phân loại cho vay theo các tiêu thức sau: 10 z a- Căn cứ vào thời hạn cho vay Căn cứ theo thời hạn cho vay thì cho vay được chia làm 3 loại sau đây: Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà xưởng, đầu tư máy móc thiết bị, phương tiện vận tải có qui mô lớn, thời gian hoạt động và thu hồi vốn dài. b- Căn cứ vào độ tín nhiệm của khách hàng Theo căn cứ này cho vay được chia làm hai loại: Cho vay không có tài sản bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
Loại tín dụng này thường được cấp cho khách hàng có uy tín lớn, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, thường xuyên làm ăn có lãi, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với qui mô vốn của người vay. Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng.cũng có thể không cần tài sản đảm bảo. Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên các bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba. Sự bảo đảm cho phép các ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán tài sản đó khi nguồn 11 z thu nợ thứ nhất từ quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng không đủ để trả nợ ngân hàng.
Hình thức này thường áp dụng với các khách hàng chưa có uy tín, hoặc uy tín không cao đối với ngân hàng. c- Căn cứ vào phương thức cho vay Theo căn cứ này, cho vay chia làm hai loại: Cho vay bằng tiền là hình thức cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền. Đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng và việc thực hiện bằng các kỹ thuật như: tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp. Cho vay bằng tài sản: cho vay bằng tài sản được áp dụng đó là tài trợ thuê mua.
Theo phương thức cho vay này ngân hàng hay các công ty thuê mua (Công ty con của ngân hàng) cung cấp trực tiếp tài sản cho người đi vay được gọi là người đi thuê và theo định kỳ người đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả gốc lẫn lãi. d- Căn cứ vào nguồn gốc khoản vay Dựa vào căn cứ này cho vay chia thành hai loại Cho vay trực tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay đuợc thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. e- Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay Cho vay bán lẻ: Là các khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình như mua nhà, sửa chữa nhà, mua phương tiện đi lại, học tập, khám chữa bệnh, du lịch….
Cho vay sản xuất kinh doanh: là các khoản cho vay đối với các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, hộ kinh doanh để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. 12 z f- Căn cứ vào đối tượng cho vay Cho vay bán lẻ: là các khoản vay cung cấp cho đối tượng là các cá nhân, hộ kinh doanh Cho vay bán buôn: là các khoản vay cung cấp cho đối tượng là các doanh nghiệp, tổ chức, định chế tài chính. Các bên tham gia a- Người cho vay Các tổ chức tín dụng được thành lập và thực hiện nghiệp vụ cho vay theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng b- Người vay Là người có phương án, dự án cần có vốn để thực hiện nó, bao gồm các pháp nhân và cá nhân Việt Nam (Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 94 Bộ Luật Dân sự; Cá nhân; Hộ gia đình; Tổ hợp tác; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp doanh), các pháp nhân và cá nhân nước ngoài. Vai trò của hoạt động cho vay a- Đối với nền kinh tế Tín dụng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển: trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ - sản xuất - lưu thông nên hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra tại các doanh nghiệp.
Từ đó, tín dụng đã góp phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Mặt khác, với mục tiêu mở rộng sản xuất đối với từng doanh doanh nghiệp thì yêu cầu về vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra. Bởi lẽ đẩy nhanh tiến độ phát triển sản xuất không chỉ 13 z chờ vốn tự có mà doanh nghiệp phải biết tận dụng những dòng chảy khác của vốn xã hội.