Chương 1.1 Lý do chọn đề tài và mục đích của luận văn Hầu hết chúng ta thường có một danh sách các website ưa thích, có thể khoảng 10-15 điểm dừng chân mỗi ngày. Tuy nhiên, thường chỉ có một vài điểm trong số đó có tin mới đáng đọc ngay lập tức, do vậy thói quen nạp và duyệt qua từng site mỗi ngày làm lãng phí rất nhiều thời gian của người dùng. Nhờ một chuẩn web tên RSS việc đọc tin này sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Chuẩn này cho phép các site cung cấp một danh sách đơn giản chỉ gồm tựa đề và nội dung tóm tắt.
Dùng một chương trình gọi là RSS reader (trình đọc RSS), mọi người có thể đăng ký với các nguồn cung cấp tin khác nhau và nhanh chóng duyệt qua những tin tức dày dặc. Tuy nhiên khi nhu cầu đọc tin tức lên cao, người ta không chỉ bó buộc đọc trên máy tính hay di động mà còn có nhu cầu lưu lại các mẩu tin tức, chuyển chúng qua lại giữa máy tính và các thiết bị khác nhằm tiện hơn cho việc đọc của mình. Luận văn trình bày về một hệ thống đọc tin RSS bao gồm hai chương trình hoạt động độc lập, riêng rẽ trên máy tính và di động, đồng thời cho phép đồng bộ dữ liệu giữa hai thiết bị cũng như tổ chức lưu trữ các mục RSS theo mong muốn nhằm đáp ứng nhu cầu đọc tin tức ngày càng cao của người sử dụng.2 Tổ chức luận văn Luận văn được chia thành năm phần chính và một phần phụ lục. Phần 1 tác giả trình bày mục đích nghiên cứu, phương pháp luận cũng như tổ chức của luận văn.
Phần 2 giới thiệu chung về các công nghệ được sử dụng trong hệ thống, đó là RSS và bluetooth Chương này giới thiệu về RSS cũng như cấu trúc dữ liệu và các thành phần Hồ Việt Thắng ĐTTH 2009 9 Phát triển phần mềm lấy tin nhanh RSS có khả năng tương tác với PC của định dạng gốc của RSS là XML. Ngoài ra tác giả cũng nói về các đặc điểm của bộ giao thức Bluetooth và cấu trúc phân tầng của nó. Phần 3 nói về mô hình của hệ thống đọc tin RSS sẽ được xây dựng dựa trên một bài toán cụ thể. Qua quá trình phân tích bài toán tác giả thu được các yêu cầu về chức năng và phi chức năng của hệ thống phải có, từ đó thiết kế các phần của hệ thống trên cả máy tính và di động.
Phần 4 đưa ra giao thức đồng bộ được sử dụng cho hệ thống đọc tin. Giao thức này cho phép đồng bộ dữ liệu cũng như cách thức tổ chức thư mục mà người dùng thực hiện trên máy và di động Phần 5 đánh giá hệ thống đọc tin RSS đã được thiết kế, các ưu nhược điểm cũng như hướng phát triển trong tương lai. Các hướng dẫn cài đặt hệ thống cùng các ảnh minh họa giao diện chương trình, các tài liệu tham khảo được trình bày trong phần phụ lục.3 Phương pháp nghiên cứu. Tác giả nghiên cứu lý thuyết về cấu trúc bộ giao thức Bluetooth và chuẩn dữ liệu RSS từ đó thiết kế một giao thức đồng bộ các thông tin về RSS giữa máy tính và thiết bị di động (cụ thể là di động sử dụng hệ điều hành symbian của Nokia) rồi kiểm nghiệm trên các thiết bị thật theo nhiều kịch bản đồng bộ khác nhau.
Từ mô tả bài toán đặt ra, qua quá trình phân tích thu được các yêu cầu chức năng và phi chức năng mà hệ thống cần có, đồng thời cũng rút ra được các mặt thuận lợi và khó khăn khi xây dựng hệ thống. Dựa trên các yêu cầu thu được từ quá trình phân tích, thiết kế nên cấu trúc của hệ thống trên cả máy tính và di động, các biểu đồ tuần tự, sơ đồ tương tác giữa các thực thể…Từ Hồ Việt Thắng ĐTTH 2009 10 Phát triển phần mềm lấy tin nhanh RSS có khả năng tương tác với PC các yêu cầu về khả năng đồng bộ thiết kế các loại gói tin cũng như các trường cần phải có để đáp ứng yêu cầu đó. Hồ Việt Thắng ĐTTH 2009 11 Phát triển phần mềm lấy tin nhanh RSS có khả năng tương tác với PC Chương 2. TỔNG QUAN Chương trình được xây dựng bao gồm hai phần mềm riêng biệt - một chạy trên máy tính và một chạy trên thiết bị di động, nhưng có cấu trúc chương trình giống nhau.
Mỗi phần mềm đều có chức năng lấy tin RSS từ mạng internet, tổ chức các catalog và RSS theo các đề mục tùy thích và khả năng đồng bộ dữ liệu với thiết bị còn lại bằng một giao thức đồng bộ hoạt động trên nền tảng mạng Bluetooth. Phần này sẽ giới thiệu các khái niệm cơ bản nhất về bộ giao thức Bluetooth và định dạng tập tin RSS được sử dụng để xây dựng nên hệ thống. Vì RSS thực chất là định dạng XML mở rộng nên luận văn sẽ đề cập chủ yếu đến biểu diễn dữ liệu và những thành phần của một tài liệu XML.1 Giới thiệu chung về RSS RSS (Really Simple Syndication) là một định dạng tập tin thuộc họ XML dùng trong việc chia sẻ tin tức Web được dùng bởi nhiều website tin tức và weblog. Hình 1: RSS Hồ Việt Thắng ĐTTH 2009 12 Phát triển phần mềm lấy tin nhanh RSS có khả năng tương tác với PC RSS được dùng phổ biến bởi cộng đồng weblog để chia sẻ những tiêu đề tin tức mới nhất hay toàn bộ nội dung của nó, và ngay cả các tập tin đa phương tiện đính kèm.
(xem podcasting, vodcasting, broadcasting, screencasting, Vloging, và MP3 blogs.) Vào giữa năm 2000, việc sử dụng RSS trở nên phổ dụng đối với hãng tin tức lớn, bao gồm Reuters, CNN, và BBC. Những nhà cung cấp tin này cho phép các website khác tổng hợp những tiêu đề tin tức "được chia sẻ" hay cung cấp các tóm tắt ngắn gọn của các bản tin chính dưới nhiều hình thức thỏa hiệp khác nhau. RSS ngày nay được dùng cho nhiều mục đích, bao gồm tiếp thị, báo cáo lỗi (bug-reports), hay các hoạt động khác bao gồm cập nhật hay xuất bản định kì. Một chương trình gọi là một feed reader hay aggregator có thể kiểm tra xem một website có hỗ trợ RSS cho người dùng không và, nếu có, hiển thị những bài viết cập nhật nhất mà nó tìm thấy từ website đó.
Ngày nay có thể tìm thấy RSS feeds trên rất nhiều Web sites lớn, cũng như nhiều những site nhỏ. Các công cụ đọc tin phía trình khách và công cụ aggregator thường được xây dựng thành một chương trình độc lập hoặc là một phần mở rộng của các chương trình có sẵn như trình duyệt web. Những chương trình như vậy có mặt trên nhiều hệ điều hành khác nhau. Trên các trang web, RSS feeds thường được liên kết bằng một hình chữ nhật màu cam , có thể kèm theo các kí tự XML hay RSS.
Vì RSS thực chất là sự mở rộng của XML nên trong phần tiếp theo luận văn sẽ trình bày về cấu trúc và mô tả của định dạng XML.1 Giới thiệu chung về XML XML (Extensible Markup Language) ra đời vào tháng 2/1998, là ngôn ngữ có kiến trúc gần giống với HTML nhưng XML nhanh chóng trở thành một chuẩn phổ biến trong việc chuyển đổi thông tin qua các trang web sử dụng giao thức Hồ Việt Thắng ĐTTH 2009 13 Phát triển phần mềm lấy tin nhanh RSS có khả năng tương tác với PC HTTP. Trong khi HTML là ngôn ngữ chủ yếu về hiển thị dữ liệu thì XML lại đang phát triển mạnh về việc chuyển tải, trao đổi và thao tác dữ liệu. XML đưa ra một định dạng chuẩn cho cấu trúc của dữ liệu hoặc thông tin bằng việc tự định nghĩa định dạng của tài liệu. Bằng cách này, dữ liệu được lưu trữ bằng XML sẽ độc lập với việc xử lý.
Vì vậy XML ra đời sẽ đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các nhà lập trình trong vấn đề trao đổi và xử lý thông tin. Ưu điểm của XML là có thể mô tả được các loại dữ liệu có cấu trúc, dễ đọc dễ hiểu, được lưu trữ trên máy dưới dạng tập tin văn bản nên không cần cài đặt thêm bất cứ phần mềm nào để sử dụng. Tuy nhiên cũng có thể thấy nhược điểm của XML là không hỗ trợ bảo mật, không có cơ chế đảm bảo tính toàn vẹn dữ liêu, không hỗ trợ người dùng đa truy nhập và không cho phép truy vấn qua nhiều tài liệu 2.2 Từ HTML đến XML Trong một trang Web, ngôn ngữ đánh dấu HTML dùng các cặp Tags để đánh dấu vị trí đầu và cuối của các mảnh dữ liệu để giúp chương trình trình duyệt (browser) parse (ngắt khúc để phân tích) trang Web và hiển thị các phần theo ý người thiết kế trang Web. Thí dụ như một câu HTML dưới đây: <P align="center">Chào mừng bạn đến thăm <STRONG>Bách Khoa</STRONG> </P> Câu code HTML trên có chứa hai markup Tags, <P> và <STRONG>.
Mỗi cặp Tags gói dữ liệu nó đánh dấu giữa opening Tag và closing Tag. Hai closing Tags ở đây là </P> và </STRONG>. Tất cả những gì nằm bên trong một cặp Tags được gọi là Element. Để nói thêm đặc tính của một Element, ta có thể nhét Attribute như align trong opening Tag của Element ấy dưới dạng AttributeName="value", thí dụ như align="center".
Vì Tags trong HTML được dùng để format (trình bày) tài liệu nên browser cần biết ý Hồ Việt Thắng ĐTTH 2009 14 Phát triển phần mềm lấy tin nhanh RSS có khả năng tương tác với PC nghĩa của mỗi Tag. Một browser hay HTML parser sẽ thu thập các chỉ thị sau từ câu HTML trên: - Bắt đầu một Paragraph mới và đặt Text ở giữa trang (<P align="center">). - Hiển thị câu Chào mừng bạn đến thăm - Hiển thị chữ Bách Khoa cách mạnh mẽ (<STRONG>Vovisoft</STRONG>). - Gặp điểm cuối của Paragraph (</P>) Để xử lý đoạn code HTML trên, chẳng những browser cần phải xác định vị trí các Tags mà còn phải hiểu ý nghĩa của mỗi Tag.
Vì mỗi Tag có ý ngĩa riêng của nó, thí dụ P cho Paragraph, STRONG để nhấn mạnh, thí dụ như dùng chữ đậm (Bold). Giống như HTML, XML đến từ SGML. Nó cũng dùng Tags để encode data. Điểm khác biệt chính giữa HTML và XML là trong khi các Tags của HTML chứa ý nghĩa về formatting (cách trình bày) các dữ liệu, thì các Tags của XML chứa ý nghĩa về cấu trúc của các dữ liệu.
Thí dụ như một tài liệu đặt hàng (order) XML dưới đây: <Order OrderNo="1023"> <OrderDate>2002-3-27</OrderDate> <Customer>Peter Collingwood</Customer> <Item> <ProductID>1</ProductID> <Quantity>5</Quantity> </Item> <Item> <ProductID>4</ProductID> <Quantity>3</Quantity> </Item> </Order> Tài liệu này chỉ chứa dữ liệu, không nhắc nhở gì đến cách trình bày. Điều này có nghĩa là một XML parser (chương trình ngắt khúc và phân tích) không cần phải hiểu ý nghĩa cũa các Tags.