Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT NGHỀ CHO NGƯỜI HỌC 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT NGHỀ CHO NGƯỜI HỌC Trong cuộc sống, phẩm chất nhân cách và đạo đức muôn đời là thước đo giá trị của mỗi con người. Phẩm chất là đặc trưng của từng cá nhân, là bản chất thực của con người. Người mà thiếu phẩm chất nhân cách sẽ mất phương hướng khi lựa chọn con đường chính đáng cho mình trong cuộc sống cũng như trong lao động.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, của nền sản xuất hiện đại thì bản thân ở mỗi người lao động cũng cần phải có những thay đổi về chất để có thể đáp ứng được những đòi hỏi mới của công việc. Mỗi một ngành nghề, mỗi công việc sẽ có những yêu cầu riêng và đòi hỏi người thực hiện phải có những nguyên tắc cần phải thực hiện. Nói cách khác là người lao động cần phải thay đổi những phẩm chất của chính họ để thích ứng được với những thay đổi của xã hội. Do đó, việc định hình những phẩm chất nghề nghiệp của người lao động ở tại mỗi quốc gia nói chung và tại Việt Nam nói riêng lại càng quan trọng hơn bao giờ hết nhằm tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng và cải thiện khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Trong nền kinh tế ngày càng phát triển, các loại hình nghề nghiệp đã dần mang tính chuyên môn hóa cao. Do đó, để xác định được những phẩm chất nghề (PCN) phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp của mỗi cá nhân thì cần phải tính đến những thiên hướng và năng lực của bản thân. Và khi đề cập đến vấn đề phải làm thế nào để phát triển PCN cho người lao động nhằm nâng cao luan an 7 hiệu quả năng suất lao động thì cũng đã có nhiều người nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này trên nhiều bình diện khác nhau. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Arixtốt (384 – 322 TCN) là một nhà tư tưởng vĩ đại của triết học Hy Lạp cổ đại.
Những tác phẩm của Arixtốt còn lại cho đến ngày nay có thể chia làm tám nhóm: triết học chung, logic học, vật lý học, sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, kinh tế học, chính trị và nghệ thuật học. Arixtốt đã xây dựng học thuyết về đạo đức dựa vào tâm lý học. Theo Ông quan niệm “đức hạnh là người biết định hướng, biết làm việc và có sự tìm tòi những điều hay trong xã hội”. Nó không phải được tự nhiên ban cho con người một cách tự động và chỉ cho con người khả năng có đức hạnh.
Sự thông thái và trí tuệ của con người có thể có được là do học tập, còn đạo đức có được là do giáo dục. Ngoài ra, Arixtốt còn xem xét đạo đức không chỉ ở hành vi con người mà căn cứ cả vào quyền của nó nữa. Con người chỉ có thể được coi là có đầy đủ đức hạnh nếu họ có sự cố gắng, có khả năng thuyết phục và khuyên bảo người khác. Tại Nhật bản, khi bước vào thời Minh Trị (1868-1912) thì xã hội Nhật Bản có sự chuyển biến sâu sắc từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản cận đại.
Điều này làm nảy sinh một sự bất an, hỗn loạn về mặt tinh thần trong dân chúng. Cả nước Nhật Bản lúc bấy giờ phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, thách thức, vừa phải phục hồi nền kinh tế, phát triển nhanh để tránh nguy cơ bị biến thành thuộc địa, vừa phải bảo tồn được bản sắc văn hoá của dân tộc. Và sau này, triết lý của giáo dục sau chiến tranh được xác định bởi “Hiến pháp nước Nhật Bản” và “Luật giáo dục cơ bản” được ban hành vào tháng 03/1947. Triết lý của nền giáo dục mới, mà sau này người Nhật quen gọi là giáo dục dân chủ, được xây dựng dựa trên sự phản tỉnh sâu sắc về nền giáo dục trước chiến tranh và tiếp thu tinh hoa giáo dục của các nước phương Tây.
Mục tiêu giáo dục giờ đây không phải là đào tạo nên những thần dân luan an 8 trung quân ái quốc mà là đào tạo người công dân có đủ tri thức, phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng nhân quyền [29]. Trải qua các thời kỳ phát triển nhưng Nhật Bản vẫn xây dựng một nền tảng giáo dục dựa trên những triết lý của thời sau chiến tranh, vẫn luôn quan tâm đến đào tạo một con người mới đầy đủ tri thức, năng lực và phẩm chất. Trong lĩnh vực nghiên cứu phẩm chất của người lãnh đạo, nhà Tâm lý học R.Stogdill đã nghiên cứu sâu về những phẩm chất của người lãnh đạo và xác định người lãnh đạo cần có 5 đặc điểm về thể chất (chiều cao, ngoại hình, sức khỏe…), 4 đặc điểm về tri thức, 16 đặc điểm về nhân cách, 9 đặc điểm về xã hội và 6 đặc điểm tính cách… Ông cho rằng từng đặc điểm riêng lẻ có thể không có ý nghĩa, nhưng một nhóm đặc điểm thì liên quan rất chặt chẽ với sự thành công. Stogdill khẳng định rằng: “có một mối tương quan nhất định giữa các đặc điểm về sự thông minh, uyên bác, đáng tin cậy, trách nhiệm, sự tham gia xã hội, và địa vị kinh tế - xã hội của người lãnh đạo so với người không phải là lãnh đạo” [53; tr.Gônôbôlin với công trình “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” đã nêu lên các phẩm chất phù hợp với công việc giảng dạy và giáo dục học sinh.
Đó là các phẩm chất như: đạo đức, chí hướng, hứng thú, năng lực, quá trình nhận thức, hoạt động trí tuệ, tình cảm, phẩm chất ý chí [24]. Ở lĩnh vực kinh doanh, Ladvsta Mikhail (1994) trong công trình nghiên cứu về giới kinh doanh nước Mỹ, đã đưa ra những phẩm chất của nhà kinh doanh lý tưởng ở Mỹ; F. Ông đã công bố công trình “Khả năng tiềm tàng của con người trong lao động và phẩm chất của người lãnh đạo”, trong đó chỉ ra các phẩm chất của nhà lãnh đạo các doanh nghiệp phải vượt trội hơn người bình thường trong quản lý, lãnh đạo. Meyer (2011) trong bài báo “Phẩm chất của một nhà kinh doanh thành công” cho rằng nhà kinh doanh thành công thường có các phẩm chất đặc luan an 9 trưng như: có đầu óc nhạy bén, sắc sảo; có đầu óc mạo hiểm, dám chấp nhận rủi ro; tự tin vào năng lực của bản thân; đạo đức (chữ tín, lòng trung thực, lòng tin); không cam chịu số phận, không bằng lòng với hiện tại, chấp nhận thách thức với tương lai; thích sự cạnh tranh (dẫn theo L.
Về lĩnh vực y học, M. Simpson (1972) cho rằng sinh viên ngành y cần có một số phẩm chất như: trí tuệ, ham nghiên cứu khoa học, có sức khỏe, quan tâm đến mọi người, khách quan, thông cảm với mọi người, ngoại hình dễ chịu, thích ứng tốt, bình tĩnh, thấu hiểu ẩn ý người khác [44;tr. Ở đây, tác giả cũng quan niệm phẩm chất là bao gồm cả đặc điểm thể chất, ngoại hình, tâm lý,… Tác giả N. Usacov (1984) yêu cầu muốn hành nghề bác sĩ cần có các phẩm chất như: óc quan sát, khiêm tốn, trung thực, vô tư, quên mình, vị tha, đạo đức cao cả, uy tín [40; tr.
Về lĩnh vực hoạt động thiết kế, một số tác giả của trường Đại học Tổng hợp Lêningrat đã đưa ra phương án thử nghiệm 109 yêu cầu phẩm chất nhân cách người kỹ sư gồm: phẩm chất biểu hiện thái độ với công việc: yêu lao động, thái độ quan tâm đến công việc, sáng tạo, ham học hỏi, tìm tòi cái mới; phẩm chất đặc trưng cho phong cách hành vi: tính độc lập, tính chấp hành, tính năng động; phẩm chất trí tuệ: tính mềm dẻo, tính phê phán, độ sâu, bề rộng, khái quát; phẩm chất đặc trưng cho thái độ đối với con người: tính trung thực, thẳng thắn, độ lượng; phẩm chất đặc trưng đối với bản thân: khiêm tốn, tự tin, tự hoàn thiện, hòa đồng… [2; tr. Về lĩnh vực giáo dục, A. Petrovski cho rằng phẩm chất nghề nghiệp của người giáo viên thuộc xu hướng nhân cách; A.Kovalev khái quát các phẩm chất cần thiết của người thầy giáo theo 3 thành phần: xu hướng sư phạm, tính cách sư phạm, khí chất của người giáo viên bên cạnh năng lực sư phạm [42]. luan an 10 Tại Liên Xô (cũ), trong những năm 20 của thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu về các phẩm chất phục vụ cho việc tuyển chọn, tư vấn, đào tạo nghề.
Đến năm 1921, phòng thí nghiệm tâm lý chuyên nghiên cứu về nhân cách của học sinh để hướng nghiệp được thành lập trong Viện nghiên cứu lao động trung ương và Viện nghiên cứu lao động toàn Ucraina. Và đến năm 1927, hội nghị toàn liên bang về tâm sinh lý lao động và tuyển chọn nghề được tổ chức ở Matxcova với sự tham gia của nhiều nhà tâm lý học nổi tiếng như E.Segurova,… Nội dung của hội nghị là tập trung nghiên cứu các xu hướng, hứng thú nghề nghiệp như là phẩm chất quyết định hiệu quả hoạt động nghề [53; tr. Như vậy, qua quá trình lao động cũng như sự phân công lao động trong xã hội đã giúp các nhà khoa học nhận ra được sự khác biệt về phẩm chất nghề của các cá nhân khi thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp. Tùy những đặc điểm của hoạt động, tùy từng yêu cầu của các công việc,… mà đòi hỏi ở từng chủ thể phải có đầy đủ những phẩm chất để đáp ứng.
Các hoạt động đó sẽ chính là tiền đề, là điều kiện để giúp chủ thể hình thành và phát triển những phẩm chất mà hoạt động đó đòi hỏi. Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về phẩm chất nghề trong hoạt động nghề nghiệp nói chung đã cung cấp những cơ sở quan trọng giúp tác giả định hướng trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước Trong xu thế hội nhập quốc tế, việc định hình những PCN của người lao động lại càng quan trọng. Nó là một nhánh trong hệ thống đạo đức xã hội, là một loại đạo đức đã được thực tiễn hoá mà đặc biệt là đối với ngành giáo dục nói chung và trong đào tạo nghề nói riêng.
Ở Việt Nam, PCN từ lâu đã được nghiên cứu và các nhà nghiên cứu cũng đã quan tâm đến việc xây dựng các hệ thống những tiêu chí xác định sự phù hợp của cá nhân với các đặc điểm nghề nghiệp.